Nguyen The's profileKỷ nguyên Web 2.0BlogLists Tools Help

Blog


    July 03

    Các nguyên tố của Social Media (1)

    Lười viết, tổng hợp một số ghi chép lười lại thành một bài cho để lưu

    Micro Blogging

    Blog lười - tại sao tôi thích

    Dạo này toàn dùng Note của LinkHay để viết. Lý do mình khoái nó là:
    * Đơn giản, ngắn gọn, không phải tốn sức đẽo gọt nó thành một bài blog thật hay, có lý và dễ hiểu cho số đông.
    * Liệt kê ý theo kiểu vắn tắt, không tốn công format, trình bày, bổ sung bằng chứng, dẫn chứng.
    * Tóm nhanh các ý tưởng, sáng kiến nảy ra trong đầu, chia sẻ cho những người có thể hiểu và bình luận nó.
    * Dài hơn Twitt một tí đủ để viết có đầu có đuôi. Tĩnh hơn Twitt và có thể edit được, chứ không bị trôi đi mất.

    Less is More with Twitter

    Chính việc buộc phải viết ngắn trong Twitter (dưới 140 ký tự) lại tạo ra nhiều cái hay
    1 - Khi người ta buộc phải viết ngắn, người ta sẽ phải chọn lọc các ý tưởng hay nhất, các từ ngữ cô đọng nhất. Từ đó tạo ra một thông điệp súc tích nhưng giàu ý nghĩa, giúp người đọc tốt ít thời gian nhất mà vẫn nắm được thông tin quan trọng nhất.
    2 - Việc đọc nhanh từng nội dung (nhờ vào việc nó ngắn), giúp người đọc có thể nhanh chóng lướt qua hàng chục, thậm chí hàng trăm thông điệp để chọn được thông điệp bạn muốn đọc sâu.
    3 - Các URL rút gọn hoàn toàn không chứa thông tin, khiến người đọc/người viết phải tập trung vào text
    4 - @reply, @via, @RT đặt cùng với ngữ cảnh nội dung, rất đơn giản, nhưng giúp người đọc tin có một hình dung nhất định vè người được @. Từ đó tạo nên cơ chế giới thiệu hoặc phát hiện một người/nguồn tin có giá trị rất hiệu quả
    5 - 140 ký tự giúp thông điệp có thể dễ dàng lên mobile, không chỉ là SMS mà còn phù hợp với màn hình nhỏ, từ đó tăng phạm vi và ngữ cảnh sử dụng
    6 - Người dùng đọc từng cụm tweet, được chia bớt ra theo các nhịp 3, 5, 10 phút (thiết lập trên client), từ đó họ có thể đọc và trả lời một khối lượng lớn thông tin so với việc vào một trang web dày đặc các items.

     

    Identity: Nick và Avatar

    Nick name is new Real name

    10 năm trước khi Internet mới vào Việt nam, nick name là tên của một người trên một website, và nhiều người đã coi mạng là ảo, nick name là cái dễ mạo danh. Tới ngày hôm nay, nick name có lẽ đã trở thành thật hơn cả tên thật. Vài trải nghiệm cá nhân
    * Tôi dùng nick TanNg từ ngày dùng netnam, xuyên suốt các network tôi từng tham gia. Và tới nay, có lẽ số người biết nhận diện được TanNg nhiều hơn số người biết họ tên thật của tôi. Avatar cũng gần tương tự vậy.
    * Khi tôi tham gia một mạng mới, thường khai nick TanNg, và những người từng biết tới mình, nhanh chóng nhận ra tôi thông qua nick TanNg
    * Mạng phản ánh cuộc sống của con người qua góc độ con người đó sinh hoạt trên mạng. Và khi hoạt động của mọi người trên mạng ngày càng mang tính xã hội nhiều hơn: viết blog, chia sẻ ảnh, giao lưu, làm quen thì nick name lại càng phản ánh cuộc sống của con người hơn bao giờ hết. Internet life đã trở thành new real life.
    * Các mạng xã hội, các công cụ social media chính là enabler hoặc chất xúc tác cho quá trình chuyển dịch cuộc sống sang internet life
    * Nick name lợi thế hơn tên thật ở chỗ: duy nhất/khó nhầm lẫn, dễ dàng nhận diện, dễ dàng tham chiếu/nhắc tới, xây dựng personal brand name.
    Như vậy:
    * Chú ý trong việc sử dụng nick name và avatar của bạn
    * Ghi nhớ rằng Internet life đã trở thành new real life

     

    Social Graph, Viral và Distribution Channel

    Social Graph dưới góc độ Social Media

    1. Social Graph là quan hệ của bạn
    * Trên FaceBook mối quan hệ là 1-1, hai người là bạn của nhau
    * Bạn viết blast tâm sự, tâm tư, bày tỏ cảm xúc Bạn bè vào chia sẻ, thông cảm, giao lưu, xã giao.
    * Bạn chia sẻ nội dung, ý tưởng. Bạn bè vào giao lưu, bàn tán.

    2. Social Graph là ảnh hưởng của bạn
    * Trên Twitt, nhiều người theo đuôi bạn. Ai quan tâm nội dugn của bạn thì follow bạn.
    * Bạn Tweet hoặc retweet để nêu góc nhìn của bạn vào một vấn đề, kèm theo link tham khảo. Đuôi của bạn là những người yêu thích nội dung bạn giới thiệu chính là tầm ảnh hưởng của bạn.
    * Nếu đuôi của bạn retweet tầm ảnh hưởng của bạn lại lan xa

    3. Social Graph là kênh tiếp nhận thông tin của bạn.
    * Trên Twitt, bạn theo đuôi một số người. Ai cung cấp thông tin tốt thì bạn theo đuôi.
    * Tweet client chính là màn hình tiếp nhận luồng thông tin mà bạn quan tâm cao.
    * Đôi lúc bạn @reply hoặc @notify để trao đổi kỹ hơn với nguồn tin, hoặc người liên quan.

     

     image

     

    4. Xây dựng và Quản lý Social Graph
    Social Graph ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng trải nghiệm Social media của bạn. Vì vậy, hãy lưu ý
    * Cung cấp các thông tin chất lượng, trao đổi, bình luận giúp người khác hiểu bạn hơn từ góc độ thông tin, để có thể quyết định có theo đuôi và giao lưu với bạn hay không.
    * Thêm bạn, lọc bỏ, theo đuôi và bỏ theo đuôi là các lựa chọn cốt tử tác động tới Social Graph của bạn, từ đó tác động tới trải nghiệm nội dung của bạn.

    Ý nghĩa của từ Viral

    Hệ quả của Viral là Lan truyền, nhưng ý nghĩa của nó giàu hơn lan truyền, mà tương đồng với Virus hơn
    * Lan truyền như virus là hệ quả, nhưng không phải là tất cả
    * Virus sức sống cao thì mức lan càng mạnh. Nội dung càng hay sức lan càng cao.
    * Virus muốn lan xa thì phải nguyên bản, lan đi đâu vẫn là nó. Ý tưởng cũng vậy, phải đủ mạnh để không bị biến thái khi lan xa.
    * Virus khi đạt tới một mật độ tới hạn thì bắt đầu lan mạnh. Nội dung cũng vậy, khi có dủ số người quan tâm thì lan xa
    * Virus muốn bùng phát phải đặt vào môi trường phù hợp. Nội dung hay khi rơi đúng thời cơ, ngữ cảnh và cộng đồng sẽ tự phát huy tác dụng.
    * Virus có thể lan nhanh, lan rộng và lan lâu: Vàng Anh lan nhanh mà không lâu, nhạc Chopin chậm mà vĩnh viễn, Mỹ Linh khó lan rộng hơn lãnh thổ Việt nam

    Lý do FaceBook, Twitter, LinkHay sẽ khiến blogging mạnh lên

    ----
    Phân phối nội dung:
    * Trước đây blogger dựa vào Google, Y360, YM và email để truyền thông tin. Các công cụ này đều không relevant và hữu ích cho blog. Vì bạn mình ít khi đọc bài viết chuyên môn của mình.
    * FB, Twitt, LinkHay là công cụ phân phối mới cho blog với tính relevant cao. Vì quá trình hình thành social graph luôn có tính kết nối cao với mối quan tâm chung. Ngoài ra các MXH này tạo điều kiện cho mọi người phát triẻn social graph xung quanh các chủ đề họ quan tâm. Tính viral cao của nhóm này cũng hỗ trợ cho bài blog reach được audience của họ
    ----
    Động lực để viết:
    * Ý tưởng bắt nguồn từ ý tưởng, sáng tạo dựa trên sáng tạo. Và quá trình trao đổi short idea trong các blast, comment tại FB, Twitt, LinkHay - lại khiến người ta phát sinh ý tưởng để viết. Notes này là một ví dụ.
    * Reactions của độc giả và fellow bloggers: thông qua comment, facebook comment, twitt reply tạo cảm hứng và sức ép để blogger viết
    * Audience rộng hơn, cũng tạo các cơ hội trong cuộc sống cho bloggers
    ----
    Xây dựng độc giả (audience) và duy trì kết nối với họ:
    * Dễ dàng tìm kiếm, kết bạn, theo đuôi
    * Comment và blast với quick idea giúp độc giả theo dõi tốt hơn và hiểu blogger hơn
    * Comment, like, retwitt, share của độc giả giúp blogger viral tốt hơn trong các mối quan hệ của độc giả. Tăng hiệu quả discovery
    ----
    Suy nghĩ của tôi:
    * Blogging kiểu chơi chơi sẽ suy giảm
    * Blogging với nội dung chất lượng hoặc chuyên nghiệp sẽ nhanh chóng bùng nổ.
    * Viva social media.
    * Bài này định viết từ lâu, mà ko có twitt kích của @web2vietnam chắc là ko viết

    June 26

    Sự kiện Jackson và Social Media

    Nếu xảy ra 5 năm trước, vào thời của traditional media, sự kiện MJ sẽ xuất hiện rầm rộ trên sóng TV vào breaking news, lên trang chủ báo điện tử, nằm trên trang nhất báo giấy, được phân tích/bình luận bởi các chuyên gia hay các bình luận viên. Cộng đồng cũng chia sẻ tiếng nói của họ, thông qua các trao đổi bàn tán trong bữa cơm gia đình, hay cuộc gặp mặt bạn bè, hoặc tại nơi làm việc.

    Ngày nay, phần traditional media có lẽ không thay đổi nhiều, nhưng web 2.0 và social media đã khiến cho nửa cộng đồng thay đổi đáng kể. Một vài ghi nhận sau

    • Bài viết trên blog, video trên Youtube/clipvn, mp3 trên các website nhanh chóng được tập hợp và chia sẻ. Thiếu những nền tảng digital publishing này, không thể có được điểm khởi tạo cho các cuộc thảo luận.
    • Các diễn đàn đều xuất hiện chủ đề thảo luận, thể hiện sự quan tâm và đóng góp của của quần chùng
    • Cộng đồng phát biểu cảm xúc và ý kiến của họ trên Twitter, khiến lượng tweet tăng gấp đôi vào thời điểm cao nhất.
    • FaceBook feed tràn ngập các post chia sẻ cảm xúc hay các video, mp3 nổi tiếng của MJ, với lượng comments tăng đáng kể. Tạo điều kiện cho người dùng tiếp cận với sự đa dạng chưa từng thấy về thông tin, các bài hát và buổi trình diễn của Jackson, ảnh/video ghi nhận các thời khắc quan trọng, các bài viết, bình luận tư liệu.
    • Trang chủ LinkHay có tới 50% số link nói về sự kiện JM, với sự đa dạng và nhiều góc độ: thông tin về cái chết của ông, chia sẻ cảm xúc, các video/bài hát hay, sự nghiệp, và thậm chỉ cả các thông tin bình luận về ảnh hưởng tới công nghệ như bài viết này.

    Social media đã thay đổi media tận gốc rễ, công chúng có được một cái nhìn đa dạng hơn, sâu sắc hơn vào sự kiện, và được tạo điều kiện để phát biểu ý kiến, chia sẻ cảm xúc của mình.

    Ngay cả khi Jackson mất, ảnh hưởng của ông được đánh dấu gấp đôi bởi cả traditional lẫn social media

    Viva social media, and good bye Jackson. MJ! This your song that I love most, I’m listening it and writing about you. Wish you rest in peace.

     

     
    June 01

    LinkHay.com a content stream

     

    1. Ý tưởng sản phẩm

    Khi Y360 đóng cửa, bà con phân tán sang nhiều công cụ blog khác nhau. Việc di chuyển blog không quá khó khăn vì đã có nhiều nền tảng và công cụ khác nhau.

    Nhưng khi rời khỏi Y360 vấn đề lớn nhất là làm sao để

    * Bạn bè biết được mình có bài viết mới
    * Mình biết được bạn bè, hoặc các blog mình theo dõi có bài viết mới

    Đặc biệt là khi bạn mình có nhiều blog hoặc micro blog nằm rải rác khắp nơi, rất khó update, theo dõi.

    LinkHay được thiết kế để đảm bảo rằng dù blog bạn ở bất kỳ đâu , bạn bè vẫn nhận được cập nhật như bình thường.

    2. Cơ chế hoạt động của LinkHay

    * Theo đuôi: khi bạn đăng ký và bấm link sau http://linkhay.com/register?follow=TanNg , bạn sẽ "Theo đuôi" (follow TanNg). Theo đuôi có nghĩa là mọi hoạt động viết blog của TanNg sẽ được cập nhật cho bạn.

    * Bạn có thể Theo đuôi TanNg, Saint, Cáo, 5xu, Tyn, ThanhCong, v.v... hay bao nhiêu người tùy ý để cập nhật thông tin từ họ

    * Bạn bè 360 http://linkhay.com/feed: là một tab chứa luồng thông tin cập nhật (update stream) tổng hợp từ những người mình đã theo đuôi ở trên.

    * TanNg, Saint, Cáo, 5xu, Tyn, ThanhCong khai báo blog hoặc MicroBlog của mình, mỗi khi có bài mới hệ thống sẽ tự động nhặt về và đưa vào Tab Bạn bè 360. Bạn vào tab này là sẽ thấy cả luồng thông tin cần thiết.

    * Khi TanNg chuyển blog từ website này sang website khác thì chỉ việc khai báo lại, toàn bộ người theo đuôi TanNg không cần biết TanNg có blog mới ở đâu, mà vẫn nhận được luồng thông báo về bài viết mới.

    Nói cách khác LinkHay không phải là hệ thống viết blog, nó là công cụ giúp cật nhật xem bạn bè viết gì, ở đâu.

    3. Các hỗ trợ bổ sung

    * LinkHay hỗ trợ các nền tảng blogging và micro blogging chính sau: Wordpress, Opera, Y360, Blogger, Tumblr, Twitter và các blog khác thông qua RSS

    * LinkHay sẽ tiếp tục bổ sung các nền tảng khác theo yêu cầu

    * LinkHay giúp bạn import "quan hệ bạn bè" vào hệ thống, bằng cách đơn giản là khai URL Y360, hoặc Twitter name. Hệ thống sẽ đảm nhận phần còn lại là kết nối lại mọi người với nhau.

    * Lưu ý: theo đuôi là quan hệ 1 chiều, TanNg theo đuôi 5xu, không có nghĩa là 5xu tự động theo đuôi TanNg.

    * Để giúp bạn bè "theo đuôi" dễ dàng, hay lấy link tương tự như sau http://linkhay.com/register?follow=TanNg và gửi cho bạn bè (thay nick TanNg bằng nick của bạn). Khi họ bấm và đăng ký account thì bạn bè tự động theo đuôi bạn, một thông báo bằng email cũng được gửi cho bạn, nếu bạn muốn có thể theo đuôi ngược trở lại người mình quan tâm

    March 28

    Viết nhanh: Chrome là đối thủ của IE hay FF?

    Không hiểu sao nhiều người hay phân tích Chrome vs FF. Đứng từ góc độ chia sẻ nhu cầu và giá trị thì

    1. Mainstream users, Gọn nhẹ: Chrome, IE8 > IE7, IE6 --> Chrome và IE8 lấy thị phần của IE7, IE6

    2. Mainstream users, Upgrate tiện lợi: IE8 lấy thị phần từ IE7, IE6

    3. Mainstream users, Marketing power: Chrome phân phối và thương hiệu qua Google. Chrome lấy thị phần của MS, không tác động được vào FF

    4. Advanced users, Chức năng, tiện lợi: FF > Chrome, IE. Chưa rõ FF đạt peak  hay không trong mảng này, nhưng xu hướng user ngày càng advanced. FF lấy thị phần của IE, Chrome không tranh được.

    5. Advanced users, Web2.0 apps, JS: Chrome, FF > IE6, IE7 đáng kể. Chrome, FF lấy thị phần của IE. Nhưng tốc độ lấy phụ thuộc vào ý tốc độ tăng trưởng của Advanced user. Web 2.0 giảm hot --> không chừng trend còn bị đảo ngược.

    6. Anti Microsoft user/Apple và Linux Fanboi: Chrome = FF. Chrome lấy thị phần của FF

    Tổng hợp lại, và ước tính trọng số thị phần của IE thì có vẻ Chrome đánh vào base của IE nhiều hơn là làm được gì FireFox, thậm chí có thể Chrome mò cho FF xơi, vì user mainstream move vào Chrome trước, sau đấy chuyển sang FF theo mức độ advance.

    Còn nhu cầu gì lớn chưa tính đến không nhỉ?

    Viết nhanh: Hậu duệ của Y360!

    Bàn tán trên net về số phận Y360 cũng nhiều. Đọc mạch thảo luận trong LinkHay, câu em đi để lại con đường của Tuấn Linh tự dưng khiến nảy ra hứng viết, nhưng lại viết kiểu nháp, ngắn gọn thôi.

    1. Y360! đang chết – không thể đảo ngược. Dù Yahoo đóng cửa nó hay không thì user cũng dần dần rời bỏ nó sang các dịch vụ khác.
    2. Vấn đề là Y360 ra đi sẽ để lại những gì, users của nó chuyển sang các dịch vụ nào?
    3. Đánh giá vấn đề từ các góc độ nhu cầu của người dùng mà Y360 đang đáp ứng
      • Theo đối tượng
        • Hot blogger: viết bài hot, nhanh chóng được bạn đọc biết, lan truyền,  và comment
        • Proffesional blogger: viết bài, kết nối quy mô nhỏ
        • Giới trẻ: trang trí home page, tâm sự thở than, kết nối bạn bè
        • Casual writer: tâm sự đơn giản, kết nối bạn bè
        • All: blasting, update status
      • Nhu cầu kết nối (relationship centric)
        • Update trang home 360
        • Kết nối thông qua YM và YM notify
        • Blast update
        • Phát triển quan hệ: yếu, không đáng kể
        • Comment
      • Blogging (content)
        • Hot, pro và casual
        • Copy and share
        • Tracking bài viết của bạn (thay cho RSS)
      • Ego centrics
        • Trang trí home page, tạo style
        • Post bài đáp ứng nhu cầu Ego
    4. Tại sao Yahoo rời bỏ Y360?
      • Yahoo là công ty toàn cầu, Y360 không cạnh tranh được ở toàn cầu, duy trì Y360 ở Việt nam là vô nghĩa.
      • Yahoo cố đẩy lùi tiến trình này lại, vợt được bao nhiêu thì vợt –>  đẩy user sang Yahoo plus và Yahoo Profiles.
      • Y360! là một sản phẩm tệ không cạnh tranh nổi với các sản phẩm khác mang tính chuyên biệt hóa.
      • Người dùng Việt nam bị bó trong môi trường Internet của Yahoo nên việc đóng gói all-in-one các chức năng tạo ra hiệu ứng user lock-in cho Yahoo.
      • Ở quốc tế
        • Blogging có WP, blogger hơn hẳn Yahoo
        • Ego/Style centric có MySpace
        • Kết nối có FaceBook
        • Content viral có Twitter, FaceBook
        • Blogging kết hợp home page có LiveSpaces
        • Quick Share kết hợp style có Tumbl
    5. Tại sao người dùng chưa bỏ Y360
      • Không phải vì chưa có tools hay platform mới
      • Mà vì ngại migrate, và chuyển nội dung cũ sang chỗ mới
      • Vì sợ mất kết nối cũ và khả năng lan truyền nội dung.
    6. Y360 tan vỡ, và users của họ sẽ phân tán sang nhiều network khác nhau, như dưới đây
    7. Blogging chuyên nghiệp/Hot bloggers
      • Wordpress và Wordpress tự host: chủ động, linh hoạt, tùy biến và là best blogging platform
      • Blogger của Google có một chút cơ hội, nhưng theo tôi là không bao nhiêu. Một số local blogging service provider có thể sẽ tiếp nhận được một số như sky.vn và một số khác. Tuy vậy do ko tìm hiểu kỹ nên tôi cũng không rõ tiềm năng của nó tới đâu.
      • Nhóm này lo ngại mất độc giả, nhưng họ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng lượng độc giả của họ không phụ thuộc vào Y360 mà phụ thuộc vào nội dung của họ.
      • Các công cụ social media mới: facebook, twitter, linkhay giúp họ thoát khỏi phụ thuộc trên
      • Cách tốt là thoát ngay, thoát nhanh, và làm quen thu thập kinh nghiệm với môi trường mới, phát triển quan hệ trong môi trường media mới.
    8. Home page/trang trí
      • Nhóm user này có 2 lựa chọn Tumblr đang được chú ý, và các social network của Việt nam mà copy lại phong cách Y360.
      • Nhóm coi trọng trang chủ phong cách riêng có thể đổ về Yume, Cyworld, Yobanbe, Ipro
      • Nhóm thích trang trí, kèm theo chia sẻ có thể đổ về Tumblr
      • Còn nhiều network nữa rất mạnh ở quốc tế, nhưng chưa đủ để notice.
    9. Quan hệ, update bạn bè, giao lưu, viết nhanh, thở than, tâm sự 
      • FaceBook sẽ tóm toàn bộ segment này một cách nhanh chóng vì:
      • nó có đủ các chức năng quan trọng: quick blog (notes), blasting, tracking update, chia sẻ ảnh
      • nó được PR mạnh mẽ như một sự thay thế Y360
      • nó đã đạt được critical mass và viral rất nhanh, không ai có thể theo kịp nữa.
      • nhóm user này không có nhu cầu quảng bá nội dung của họ nên không bị phụ thuộc vào quan hệ cũ Y360
    10. Social media, viral content, chia sẻ what is interesting, tracking update
      • YM hiện vẫn là king qua việc gửi link, nhưng trở nên lạc hậu
      • Twitter là người nắm bắt và đẩy khái niệm này lên tầm cao mới; phát triển rất nhanh và tạo ra giá trị rất riêng biệt.
      • LinkHay được design cho update, share và tracking conservation. Nhưng cảm nhận của người dùng về giá trị sẽ rất khó khăn.
      • Ngoài ra không có ai đang cạnh tranh lĩnh vực này.
      • Nhu cầu này ko được phục vụ tốt nhất ở FaceBook, nhưng nó có thể là “just enough” để các đối thủ khác không thể đạt được critical mass.
      • Như vậy, nhu cầu loại này không phải “nhặt user của Y360” mà sẽ là xuất phát từ nhóm users này.
      • FaceBook, Twitter, LinkHay nhắm vào đây. Facebook có lợi thế tốc độ, nhưng 2 dịch vụ kia định vị khác về nhu cầu. Vì vậy tới thời điểm này, kết quả của họ phụ thuộc nhiều vào chính định vị và năng lực phát triển sản phẩm của họ hơn là việc FB đi tới đâu.
      • Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới các twitter clone ở Việt nam, nhưng ko nhớ tên dịch vụ nào nên không lưu ra ở đây.

    Notes:

    1. Bài này chỉ nói về hậu duệ của Y360, chứ ko phải nói về Social network và social media nói chung.

    2. Sẽ còn sót nhiều dịch vụ chưa được nhắc tới, ở trên là những cái tôi biết và nghĩ rằng có thể có cơ hội. Bạn có thể giới thiệu thêm dịch vụ bạn biết.

    10 lực lượng cản trở Google’s domination (phần 2)

    A. Sự thống trị của Google

    B. Và các lực lượng cản trở

    1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

    a. Last click shouldn’t get all the credit

    -- tiếp theo --

    b. Google Anlytics nhân rộng nhầm tưởng

    Capture Chủ sở hữu và quản lý website, cũng như các nhà quảng cáo đều quan tâm tới việc độc giả đến với website họ từ đâu? Đến thẳng website, đến từ các link dẫn chiếu, các chiến dịch quảng cáo banner/email, hay từ search engine. Khi nhìn vào bảng tổng kết bên, đa số trong số họ đều nhanh chóng kết luận search mang lại cho tôi 22%, trực tiếp 54%, v.v… mà không đi sâu thêm vào chi tiết.

    Web analytics is the measurement, collection, analysis and reporting of internet data for purposes of understanding and optimizing web usage.[1] 

    Thị trường phân tích web (web analytics), đã từng phát triển rất mạnh nhiều năm trước để phục vụ nhu cầu đo lường phân tích hành vi của người sử dụng trên trang web: đến từ nguồn nào, sử dụng trang nào nhiều, di chuyển theo luồng nào trên trang web. Thị trường này từng có 5-6 sản phẩm thương mại cạnh tranh, và một vài sản phẩm mã nguồn mở. Các sản phẩm này có mô hình kinh doanh đa dạng khác nhau như: bán phần mềm, bán dịch vụ đo lường qua web, bán phần mềm nâng cao, bán dịch vụ tư vấn.

    Tuy vậy, sau đó Google gia nhập cuộc chơi. Họ mua lại Urchin, một trong các sản phẩm web anlytics hàng đầu trên thị trường, dựa trên đó để phát triển Google Analytics (viết tắt là GA), đồng thời cung cấp miễn phí dịch vụ phân tích web cho các nhà làm web mà chỉ cần đăng ký. Google Analytics nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường bởi vì nó là một sản phẩm có giá trị rất cao với chất lượng thật sự về nghiệp vụ, lại hoàn toàn miễn phí, tốc độ và ổn định được đảm bảo bởi datacenter hàng đầu của Google, và trở thành chuẩn mực defacto trong giới làm web.

    GA là một công cụ tuyệt vời và được nhiều người tin dùng, một số thậm chí còn sử dụng nó như một công cụ so sánh website. Tuy vậy, trong 1000 người có lẽ không quá 5 người hiểu thấu đáo cách mà GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới website.

    GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới site thành 4 nhóm chính

    1. Trực tiếp: được nhiểu là các độc giả bấm bookmark, gõ link trực tiếp trên thanh công cụ, click link gửi cho nhau.
    2. Tham chiếu: độc giả bấm các link trên trang web, trong email, v.v..
    3. Others: bao gồm các marketing campaign được đánh dấu, tức là khi độc giả bấm các link được đánh dấu bằng kỹ thuật link tagging.
    4. Organic search: độc giả đến từ search engine

    Mục (4) organic search có một vấn đề mà nhiều người đã nhìn thấy. Đó là, ngày càng nhiều người sử dụng Google thay cho book mark, nói các khác khi tôi muốn tới Sàn Nhạc, thay vì gõ SanNhac.com, tôi sẽ gõ “Sàn nhạc” vào box search, hoặc thanh địa chỉ, browser sẽ tự động đưa thẳng về SanNhac.com, hoặc liệt kê danh sách tìm kiếm để bạn click. Ai là người khiến cho bạn muốn tới Sàn nhạc? đó là kết quả của quá trình marketing nhận diện thương hiệu, truyền miệng xảy ra trước đấy. Ai là người được ghi nhận có công tạo ra lượt đến vào bảng tổng kết của Google Analytics? đó là Google. Nói cách khác, GA ghi nhận công lao của Google nhiều hơn thực tế nó có.

    Nhưng còn một vấn đề lớn hơn mà rất ít người biết. Đó là cách GA overwrite số liệu lên nhau. Độc giả A tới Sàn nhạc 3 lần theo 3 nguồn khác nhau, vậy nguồn nào sẽ được ghi nhận? Chuyên gia tư vấn GA Justin Cutroni tổng hợp lại như sau trong blog Analytics Talk

    1. Direct traffic luôn bị overwritten bởi 3 nguồn còn lại
    2. Trong 3 nguồn còn lại, nguồn cuối cùng overwite nguồn trước.
    3. Direct traffic không overwrite các nguồn khác

    Giải thích bằng ví dụ như sau:

    1. A được người bạn gửi link SanNhac.com qua YM, click vào Sàn nhạc – hệ thống ghi nhận direct; lần thứ 2, A bấm một banner quảng cáo Sàn nhạc – hệ thống overwrite thành A đến từ quảng cáo; lần thứ 3 A nhớ tới Sàn nhạc và gõ trực tiếp URL, hệ thống vẫn ghi nhận A đến từ quảng cáo bởi vì direct. Tóm gọn lại Direct – Banner – Direct được ghi nhận là Banner
    2. Tương tự vậy Direct – Direct – Direct – Google được ghi nhận là Google
    3. Banner – Banner – Banner – Direct – Google được ghi nhận là Google
    4. Google – Google – Google – Direct được ghi nhận là Google
    5. Google – Google – Banner được ghi nhận là banner
    6. Google – Google – Tham chiếu được ghi nhận là tham chiếu

    Tuy vậy, nếu bạn chú ý một điểm quan trọng sau: “không có một banner nào chạy mãi mãi”, điều có có nghĩa là sớm hay muộn GA sẽ ghi nhận độc giả A của website bằng một trong 3 nguồn cuối cùng. Nếu bạn nghĩ thêm thật kỹ sẽ nhận thấy rằng “toàn bộ độc giả tích lũy được GA ghi nhận hết cho Google” , bởi vì tình huống duy nhất ghi nhận cho banner/tham chiếu là xảy ra với campaign cuối cùng.

    Như vậy thống kê kiểu GA sẽ khiến cho công lao của các campaign quảng cáo bằng thương hiệu, viral, banner khác chỉ được ghi nhận một lần, giá trị tích lũy cần được ghi nhận thành nội lực của site thì lại ghi nhận thành nguồn organic search (hay chính là Google).

    Cũng cần nói thêm là khi GA chiếm thị phần tuyệt đối như hiện nay, số lượng người sử dụng GA như một cơ sở đánh giá ngày càng nhiều thì nhầm tưởng này lại càng được nhân rộng, tới mức trở thành một định kiến ngầm về tầm quan trọng của Google và SEO trong việc tạo ra lượt đến site của bạn.

    Tôi không buộc tội GA trong việc cố tình làm người dùng hiểu sai, cũng rất đúng khi nói “trách nhiệm của người sử dụng là phải biết cách sử dụng số liệu thống kế một cách đúng đắn”. Nhưng thực tế ở đây là, rất nhiều người trong chúng ta đang hiểu nhầm, và điều quan trọng không phải đổ lỗi cho ai, mà điều quan trọng là làm sao để nhầm tưởng này không còn, hoặc không gây tác hại.

    Cách tốt để đánh giá vai trò nguồn của Google là chỉ quan tâm tới lượng độc giả hoặc khách hàng mà Google trực tiếp tạo ra cho bạn. Quan sát thực tế trên một số website cho thấy, chỉ có dưới 30% độc giả tới site từ nguồn SEO là new visitors, 70% còn lại đã từng đến site một vài lần nào đó. Như vậy, với ví dụ trong hình ở trên, vai trò của Google trong việc tạo traffic cho bạn giới hạn lại không quá 6.5%. Mức 6.5% này, vẫn là một con số rất lớn và cho thấy tầm quan trọng của Search engine – chỉ có điều nó không còn quan trọng như tôi từng hiểu nhầm.

    -- to be continued --

    10 lực lượng cản trở Google’s domination

    A. Sự thống trị của Google

    Mọi người đều nhất trí rằng Google là tốt nhất và mạnh nhất. Một số lượng không nhỏ cho rằng Google sắp hoặc đã đạt được vị trí monopoly trên Internet. Thậm chí, nhiều nhà phân tích, Guru và các bloggers bắt đầu nói về sự thống trị (domination) của Google trên Internet.

    Google có mọi thứ (xếp không theo thứ tự quan trọng):

    • Độ phủ sản phẩm quy mô toàn cầu, đặc biệt là search, giúp Google có được thương hiệu mạnh, thị trường quảng cáo và network effect trong việc tăng trưởng và giữ chân số lượng ngưòi sử dụng sản phẩm.
    • Các sản phẩm đại chúng chất lượng hàng đầu: SEARCH, mail, bản đồ, YouTube, … với tốc độ kinh ngạc về chiếm thị phần từ đối thủ.
    • Các sản phẩm đầy tiềm năng: Google reader, iGoogle, Google Finance, Chrome, Googel Apps, Android
    • Một đội ngũ sáng tạo, năng động, một phương pháp phát triển sản phẩm độc đáo giúp Google duy trì đổi mới và vị thế dẫn đầu.
    • Hệ thống monetization với quy mô và hiệu quả vượt trội với AdWords, AdSense và DoubleClick.
    • Datacenter kết nối toàn cầu với tốc độ xử lý, băng thông, lưu trữ và edge-caching tạo ra một hạ tầng công nghệ mà các đối thủ sẽ phải tốn nhiều tiền của, thời gian để san bằng khoảng cách.
    • Công nghệ Cloud Computing bậc nhất, với lợi thế đáng kể về chi phí khi so sánh với đối thủ, đồng thời khi kết hợp với datacenter đã đảm bảo cho người sử dụng các trải nghiệm tốt nhất về chất lượng: tốc độ, ổn định và tính sẵn sàng.

    Tuy vậy, vẫn có thể chỉ ra được nhiều lực lượng, với tiềm năng cản trở (cùng nhau, hoặc một mình) quá trình độc chiếm thế giới của Google.

    B. Và các lực lượng cản trở

    1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

    Một số người lập luận rằng khủng hoảng sẽ khiến cho tất cả cùng khó khăn. Doanh thu Google có thể bị giảm, nhưng đối thủ thiệt hại còn nặng hơn và trong thời kỳ khủng hoảng Google ở vị thế không thể hơn cho việc chiếm thị phần từ tay đối thủ đang khó khăn, tuyển dụng các nhân viên tốt nhất, mua lại các sản phẩm tốt với giá rẻ nhất. Một số report chính thống còn cho rằng Google sẽ là người chiến thắng sau khủng hoảng, vị trí chiến lược của Google sẽ vững chắc hơn nữa sau thời kỳ khủng hoảng.

    Các kết luận trên rất hợp lý, nếu bỏ qua Quy luật của Chân giá trị. Khủng hoảng và khó khăn chính là lúc mà các giá trị ảo bị nhận diện và phá hủy, các giá trị thực có đất dụng võ và phát huy.

    Với vị thế độc quyền của mình và hyped consensus, những gì Google nhận được cao hơn giá trị đáng có của nó. Tiếp theo đây, chúng ta sẽ đi vào nhận diện các giá trị ảo của Google.

    a. Last click shouldn’t get all the credit

    Lần đầu tiên vấp phải cụm từ “Last click shouldn’t get all the credit” (xem thêm ở đây), tôi đã thoáng nghĩ “thêm một hành động chê bai đối thủ của Micrsoft”, tuy vậy nó có giá trị tới mức buộc tôi phải nghĩ, nhớ và đọng lại. Tiếp đó, một vài thảo luận của các chuyên gia và các người quảng cáo thực tế đã khiến ý thức của tôi về vấn đề này ngày càng trở nên rõ rệt hơn.

    Tại một thảo luận của Search Engine Strategies ở San Jose, Mikel Chertudi – giám đốc marketing trực tuyến cao cấp của Omniture bày tỏ quan điểm

    “Search [often] gets credit for everything,”

    Chertudi explained that companies typically credit the last source of a sale, which is often paid search. However, a user may see a banner ad, receive an e-mail and then click on a paid search ad before making a purchase, and he stressed that all three of these contributing channels should be measured.

    Chertudi added that it's important not to ignore the other channels in the marketing mix, whether they are offline or online. He also cautioned that, without measuring correctly, marketers are in danger of underspending or overspending in different channels

    Nói cách khác, hiệu quả quảng cáo do các kênh và công cụ khác tạo ra, nhưng Google được người ta nhầm tưởng là đã tạo ra toàn bộ giá trị.

    Bạn có tìm hiểu sâu hơn bằng cách đọc thêm một số ý kiến tổng hợp trên LiveSide.net ở đây và một bài mới trên New Media Strategy NMS.net ở đây, và bài viết  Why the Click Is the Wrong Metric for Online Ads trên Advertizing Age.

    Quan điểm này cũng được khẳng định qua kinh nghiệm cá nhân. Chúng tôi đã từng có một website bị ban khỏi Google index, lý do rất đơn giản Lập trình viên đọc ở đâu đó trên mạng và tạo ra một loạt keyword ẩn trong bài viết – một thủ thuật SEO khi Google phát hiện ra sẽ loại ngay website khỏi index. Cũng phải lưu ý luôn là thời điểm này VCC chưa hề quan tâm tới làm SEO vì quan niệm tập trung toàn lực vào sản phẩm, bỏ qua marketing cho tới khi tin tưởng vào giá trị của sản phẩm. Traffic lập tức sụt giảm 10k visits/ngày, nhưng điều bất ngờ nhất là chỉ sau 2 tuần, traffic đã tăng bù lại toàn bộ lưu lượng bị mất từ Google. Toàn bộ số lưu lượng tăng lên là do độc giả truy cập thẳng vào website. Sau 3 tuần thậm chí lượt truy cập trực tiếp tăng lên thêm 5k visits/ngày nữa.

    Tại sao toàn bộ lưu lượng bị mất được bù lại? Tại sao thậm chí truy cập còn được nhiều hơn trước? Giải thích hợp lý nhất có được như sau: độc giả đến với website này một cách chủ động, nhưng vì người ta sử dụng Google như một công cụ để truy cập nên traffic thật sự là của website lại được ghi công cho Google. Khi website bị loại khỏi Google index, độc giả vẫn sẽ phải tìm cách để đến được nó, và họ tìm ra tên miền, hỏi bạn bè, lưu bookmark để vào trực tiếp. Một số độc giả sẽ set home page, đặt bookmark, chia sẻ link với bạn bè (họ không thể chia sẻ Google link) – và toàn bộ hiệu ứng này khiến cho lưu lượng tăng lên so với khi họ sử dụng Google để navigate.

    Hiện tượng này còn quan sát thấy trên một loạt các website khác, cũng như các phương tiện marketing khác. Một phát hiện thú vị, nhưng giá trị của nó không dừng lại ở thú vị, nó đã khiến chúng tôi thay đổi nhiều quan điểm về marketing: quan tâm hơn tới branding, tên miền, nhận diện; giảm bớt sự quan tâm tới last click (không chỉ Google); khẳng định thêm niềm tin vào giá trị lõi của sản phẩm; quan tâm hơn tới customer retention so với customer aquisition; v.v…

    March 17

    Suy nghĩ nhanh về FB design mới

      1. Thiết kế các chi tiết thông tin, công nghệ vẫn hoàn hảo
      2. Page/Group vẫn không có mấy giá trị. Cần các killer apps cho chúng.
      3. Dịch chuyển rõ ràng sang content centric, nhưng không mất hẳn relationship (cụ thể nói sau). Photo trong FB đã từng là công cụ ghi nhận friendship moment, bây giờ photo là để chia sẻ ảnh đẹp.
      4. FB tăng trưởng nhanh từ lần dịch chuyển sang content thứ nhất (cách đây vài tháng), và đây có thể là lý do cho độ “máu” khi dịch chuyển tiếp tục về content.
      5. “Học” một số thiết kế của FriendFeed: bộ lọc bên trái, thảo luận quanh feed items, import content của mình từ các nguồn khác.
      6. “Học” một phần từ Twitter: blast và micro conservation. Conservation dễ hơn twitter, nhưng hẹp hơn, ít hơn và đóng hơn.
      7. Là thay đổi lớn về lõi và bản chất và hướng đi, tuy vậy lại không phải là một cú ngoặt quá sốc với users.
      8. Đúng hay sai thì thời gian trả lời, nhưng lần thay đổi này của FB cảm giác phân vân kéo dài, chứ không ủng hộ nhanh chóng như lần trước.
      9. 3 types of relationships: (r1) bạn bè, gia đình hay các mối quan hệ thiên về tình cảm, xã hội đi với ta tới cuối đời, (r2) công việc, chuyên môn hay những mối quan hệ liên quan tới nghề nghiệp, cuộc sống của bạn, (r3) hobby, interest, affinity – Sàn nhạc là một ví dụ.
      10. Facebook đã từng thiên về (r1), (r2) và có xu hướng chuyển dần sang (r3), vẫn social graph cũ, nhưng cách họ tương tác với nhau thay đổi.
      11. New nature of FaceBook:
        • Quan hệ xung quanh các chủ để nội dung.
        • Tuy vậy nó là long tail content, not top hits.
        • Khoe content của tôi (spam) và more vanity. FB thậm chí consider url dạng facebook.com/tanng
        • Chia sẻ mối quan tâm (spam)
        • Và micro conservation (not deep)
        • Very very long tails và dynamics – big prize here?
      12. Facebook có lệch core? Very risky move. Bước đi vội vàng? Hay tới lúc lớp user mới đòi hỏi core mới, experience mới phù hợp hơn?
      13. Thách thức
        • Bản chất publicity, viral và realtime một cách tương đối của Twitter giúp nó cạnh tranh tốt hơn trong quan hệ loại (r3). Tuy vậy FB có lợi thế về social graph, basic apps rất tốt và dễ sử dụng hơn cho mass. Ngoài ra FB nhắm tới phần đuôi thấp hơn phần của Twitters.
        • Quan hệ kiểu (r3) thường hot, bốc nhanh, nhưng cũng xẹp nhanh. How to keep it có giá trị lâu dài như quan hệ tình cảm.
        • Giải quyết mâu thuẫn privacy và publicity
        • Lọc bỏ junk, spam content trên feed. Less overload.
      14. Câu hỏi mở: có dấu hiệu cho thấy FB đang ngắm vào bản chất publicity và quan hệ “theo đuôi” kiểu Twitter. Chờ và xem họ sẽ làm thế nào.
      15. Và còn một loạt câu hỏi mở nữa, nhưng too complicated to think chứ đừng nói tới viết chúng ra.
      16. Thở dài: quá khó để viết hết ra một cách rõ ràng, đầy đủ và hấp dẫn.
    February 22

    Vizio vs Sony và Quy luật Internet

    Eric Krangel , tác giả bài viết Sony Bleeding HDTV Market Share (SNE) trên Silicon Alley Insider đã tỏ thái độ sửng sốt, không tin khi đặt sapo cho bài của mình là Sony loses its spot as the #2 seller of HDTVs to Vizio. Vizio?!?. Tại sao lại là Vizio? Vizio là ai mà có thể cướp được vị trí thứ 2 của Sony?

    Thông tin về thị phần được Reuter thông báo tại đây, Eric Krangel lấy thông tin và viết bài bình luận chỉ ra nguyên nhân chính của việc này là khủng hoảng

    Now, the double-whammy: First, consumers are scaling back discretionary purchases of gadgets. Secondly, when they are buying gadgets, they're snubbing Sony for cheaper models that offer largely the same experience.

    Tất nhiên Eric đã đúng, nhưng “khủng hoảng” không phải câu trả lời duy nhất cho sự kiện này. Lập luận “khủng hoảng” không đủ mạnh để trả lời câu hỏi “Tại sao lại là Vizio?” một hãng không có lợi thế cạnh tranh thông thường về thương hiệu, chi phí, phân phối – chứ không phải các hãng khác. Tại sao Vizio có thể tăng trưởng tới mức bám sát Sony và không cách quá xa SamSung ở thời điểm trước khủng hoảng? Họ đã làm thế nào để đạt được vị trí này?

    Câu trả lời có thể đến từ “Quy luật của Internet”. Với các sản phẩm, dịch vụ Internet 4Ps (product, price, promotion và distribution channel – sản phẩm, giá, quảng bá và phân phối) trở thành gần như 1P (sản phẩm). Sản phẩm đóng vai trò tối quan trọng khi mà giá bằng zero, vai trò của kênh phân phối và chương trình quảng bá bị mất đi khi mà một sản phẩm tốt sẽ lan truyền trên Internet với tốc độ và sức mạnh không gì cản nổi ở mức chi phí gần như zero.

    Vizio là mặt hàng TIVI LCD cạnh tranh trên thị trường offline truyền thống, nơi mọi thứ không không tuân theo quy luật Internet. Tuy vậy, hãy xem Internet đã khiến mọi sự thay đổi như thế nào.

    Vizio không tổ chức các hoạt động quảng bá thương hiệu, vì thế giá thành Tivi của họ giảm được phần chi phí thương hiệu. Giai đoạn đầu Vizio thậm chí chỉ giao hàng tại kho, khách hàng tới kho trả tiền, nhận hàng và tự chờ hàng về nhà. Với cách làm này, chi phí phân phối của Vizio giảm thiểu. Các chi phí ẩn của khách hàng vẫn tồn tại, nhưng không được cảm nhận vào giá.

    Trên phương diện sản phẩm, dịch vụ Vizio nỗ lực cung cấp sản phẩm chất lượng tương đương với các dòng sản phẩm của SamSung, Sony đi kèm với dịch vụ bảo hành, bảo trì ở chất lượng tương đương.

    Bằng cách này, Vizio đã cung cấp được sản phẩm có chất lượng tương đương với các hãng tên tuổi với giá bán rẻ hơn. Trong một thế giới truyền thống, cách kinh doanh này sẽ thất bại, vì quy luật kinh doanh truyền thống bảo rằng: nếu bạn không có thương hiệu khách hàng sẽ khó chấp nhận mua sản phẩm của bạn kể cả với giá rẻ hơn, nếu kênh phân phối của bạn kém khách hàng sẽ chẳng thể mua được sản phẩm của bạn ngay cả khi họ muốn.

    Nhưng Internet đã làm thay đổi mọi chuyện. Lớp khách hàng đầu tiên của Vizio mua sản phẩm của họ đã thật sự hài lòng với một sản phẩm tương đương và giá rẻ hơn, và họ kể lại trải nghiệm của mình. Họ kể cho bạn của họ qua điện thoại và trong các câu chuyện phiếm – và lời nói bay theo gió. Các khách hàng này còn lên các diễn đàn, các site review sản phẩm để kể lại trải nghiệm của họ với Tivi của Vizio. Lời khen ngợi của họ, chứng kiến của họ với sản phẩm Vizio được lưu trữ bởi Internet, được tìm thấy nhờ Google, hay các review portal và được lan truyền từ người này qua người khác. Càng nhiều khách hàng quyết định thử sản phẩm của Vizio thì sức marketing lan truyền càng trở nên mạnh, thương hiệu Vizio ngày càng mạnh dần lên trong người tiêu dùng để đạt tới vị trí như ngày nay.

    Kinh doanh Tivi của Vizio và sản phẩm/dịch vụ Internet có sự tương đồng nào?

    • Sản phẩm và chất lượng của nó, kết hợp với sự lan truyền trên net bởi khách hàng đã tạo nên thương hiệu của sản phẩm, chứ không phải bộ máy hay ngân sách PR/Marketing.
    • Vai trò của phân phối, marketing và làm thương hiệu giảm tới mức tối thiểu có thể giảm được. Sản phẩm trở thành nhân tố quyết định chính, thậm chí gần như nhân tố duy nhất để tạo nên thắng lợi.
    • Giá bán càng thấp càng tốt để tạo được ra lượng khách hàng tối đa.

    Một case study hay phải không? Và lời khuyên cho các bloggers-hay-đi-kiễng-chân hoặc các bloggers-con-mọt-sách là đôi lúc ta cần phải quên tất cả những gì chúng ta đã nghe được người khác nói, đã học được, đã rút được kinh nghiệm để có thể mở rộng mắt và nhìn thấy thế giới mới nơi quy luật Internet sẽ ngự trị.

    January 01

    Thiết kế giao diện mới Dân trí

    Phiên bản mới Dân trí vừa mới lên, đạt được một số vấn đề sau thoáng hơn, tốc độ cao hơn, tiết kiệm 30% máy chủ và giữ được sự quen thuộc. Dưới đây là vài các quan điểm thiết kế của nhiều nhóm liên quan (BBT, Nội dung, Quảng cáo, Thương hiệu) kết hợp lại tạo nên giao diện mới. (Lưu ý đây chỉ là tổng hợp, không phản ánh quan điểm cá nhân)

    1. Giao diện

     

    * Dòng sự kiện: dùng cho việc theo dõi sự kiện quan trọng kéo dài trong nhiều ngày, cũng có thể sử dụng nó cho breaking news - Mới.

    * Menu ngang: quan niệm mỗi chuyên mục là một lĩnh vực, người đọc chuyên sâu chọn lĩnh vực, sau đó mới chú ý tới tiểu chủ đề. Các mục menu là vùng phủ nội dung của báo.

    * Vùng trung tâm: cải tiến quan niệm cũ, ngoài sự kiện trọng điểm và các sự kiện đáng chú ý trong ngày. Bổ sung thêm 3 sự kiện nổi bật, nhưng không trọng điểm bằng sự kiện chính. Vùng trung tâm chứa gọn trong màn hình đầu tiên, giúp độc giả xem lướt các sự kiện thời sự trong ngày.

    * Vùng list nội dung chuyên mục: cấu trúc 1 cột, đọc tuần tự từ trên xuống dưới, đa phần phần title bài báo nằm trên 1 dòng, quá trình đọc không phải liếc mắt ngang dọc. Dân trí và Vnexpress khác biệt lớn nhất là ở đây, Vnexpress vùng này chia làm 2 cột, xuống dòng tiên tục, quá trình lướt mắt khác với Dân trí.

    * Menu chuyên mục giấu bớt các menu con, chỉ khi nào rê chuột vào mới hiện ra (học tập ý tưởng của VnMedia). Hiệu quả là lượng thông tin độc giả phải nhìn giảm đi, nhưng vẫn giúp đọc giả ý thức được và truy cập nhanh vào chuyên mục con.

    * Màu sắc, phối màu - giữ nguyên hệ thống màu sắc, kích cỡ, font chữ cũ để giúp độc giả có được sự quen thuộc, không bị phá vỡ thói quen quá mức.

    * Kích thước: 780px, đảm bảo 2 cột đầu tiên nằm trọn trên màn hình 800*600 khó tính nhất, 980px - đảm bảo cả 3 cột nằm trọn trong màn hình 1024*768 khó tính nhất. Với màn hình lớn hơn toàn bộ hệ thông được căn giữa.

    * Các chuyên mục: giữ quy luật đọc thẳng từ trên xuống, giúp độc giả lướt nhanh qua nội dung. Tùy từng lĩnh vực mà có các box nội dung ở cột thứ 2 rộng rãi.

    Điểm dở nhất của giao diện này: toàn bộ nội dung căn sát lề trái, độc giả sẽ cảm giác là bị "lệch", mắt "lác". Tuy vậy kỳ vọng là độc giả sẽ quen dần với việc nhìn sang trái.

    2. Quảng cáo

     

    * Chuẩn: Đa phần tuân theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là chiều ngang, về chiều dài là bội số của chuẩn quốc tế. Khách hàng có thể sử dụng các banner hoặc mẫu thiết kế quốc tế để triển khai trên Dân trí và các hệ thống site chuyên ngành khác mà không cần phải thiết kế lại.

    * Kích thước: thiên về banner to rộng hơn và chia sẻ lượt xem để tạo ra chiều sâu ấn tượng bằng cảm giác hoành tráng, đẹp đẽ, không rối mắt hơn là các banner nhỏ mà ai cũng xem.

    * Màu sắc: màu sắc cả trang nhẹ nhàng, tạo độ nổi và khác biệt giữa quảng cáo và nội dung.

    * Độ thoáng: Giữa các quảng cáo được tạo độ thoáng nhờ các khoảng trống được chừa sẵn, các đường viền chờ sẵn nếu cần thiết. Khiến cho các quảng cáo tách biệt rành mạch, rõ ràng với nhau hơn.

    * Ads Format đa dạng: sự đa dạng về kích cỡ, hình thức quảng cáo chấp nhận và các hình thái rich media giúp khách hàng có nhiều lựa chọn hơn.

    3. Next step?

     

    * Cá nhân hóa? Có thể bao gồm dịch chuyển các box chứa tin chuyên mục trang chủ, điều khiển số lượng tin hiển thị theo từng chuyên mục. Điểm dở là đi ngược lại nhu cầu về sự nhất quán, thống nhất và zero effort khi tiêu thụ nội dung kiểu đại chúng.

    * Giảm từ 3 cột về còn 2 cột? Điểm lợi là hình ảnh và video sẽ to hơn, thông thoáng hơn - đặc biệt phù hợp với các nội dung có tính "xem" hơn so với tính "đọc". Tuy vậy độc giả màn hình 800*600 sẽ bị thiệt thòi nặng nề.

    * Thêm các box bổ sung cho từng chuyên mục? Nghiên cứu và cải thiện liên tục

    * Cải thiện cấu trúc từng bài viết? Ví dụ như bài liên quan, bài liên quan từ báo khác, đọc tham thảo thêm, dòng sự kiện, các box trích dẫn, thảo luận v.v.. - Vấn đề này thiên về quan điểm làm báo hơn là vấn đề thiết kế, công nghệ, vì thế không bàn ở đây.

    December 22

    Vài ý tưởng hay của hội thảo Vinpearl

    GS. Đào Nguyên Cát – TBT Thời báo Kinh tế Việt Nam, thuyết trình về xu hướng phát triển báo chí trong các năm gần đây, và dự báo cho năm 2009.

    Internet đang vẽ lại bản đồ báo chí thế giới.

    - Trong bối cảnh đó, khách hàng quảng cáo sẽ tăng cường lựa chọn những phương tiện truyền thông có giá quảng cáo rẻ hơn nhưng có “vùng phủ sóng” cao hơn. Rõ ràng, trong cuộc chiến thu hút quảng cáo, lợi thế đang nghiêng về báo điện tử.

    - Bởi vậy, nhìn từ góc độ khác, cuộc khủng hoảng tài chính đang lan rộng trên toàn cầu, một cách vô tình, đã buộc các phương tiện báo chí truyền thống trên thế giới phải đẩy nhanh quá trình cải tổ hoạt động, nếu như không muốn bị phá sản sớm.

    Bà Phạm Thu Huyền – trưởng phòng marketing Vietnam Economic Times nhấn mạnh vào các thay đổi về hành vi đọc báo của độc giả báo kinh tế.

    Thời gian đọc tin kinh tế của các doanh nghiệp, nhà quản lý

    - Hôm qua: Đọc nhanh tin kinh tế mỗi ngày

    - Hôm nay: Đọc nhiều hơn, theo dõi sát hơn để nhanh chóng thích ứng. Hôm nay có thông tin kinh tế gì đặc biệt? 

    Báo điện tử Dân trí

    Hành vi đọc báo thay đổi

    - Môi trường sử dụng, Quy luật thị giác của bạn đọc báo kinh tế thay đổi.

    - Từ đó quảng cáo cần đặt ở các vị trí phù hợp với hành vi người đọc, làm sao cho cảm nhận quảng cáo tự nhiên nhất, ăn sâu nhất.

    Ông Huỳnh Tấn Vinh, Phó TGĐ Furama resort, chỉ ra cách hành động cụ thể của Furama trong việc đối phó với khủng hoảng. Bao gồm điều chỉnh thị trường mục tiêu, sử dụng nhân lực hiệu quả, và điều chỉnh kết cấu ngân sách marketing với một số điểm đáng lưu ý trong marketing trực tuyến, bao gồm

    Xây dựng trang web, và dịch chuyển ngân sách marketing sang Internet.

    Tư vấn của AdMicro

    - Chiến dịch marketing cần được tổ chức theo các linh hoạt hơn để có sự điều chỉnh và thích ứng liên tục.

    - Tăng cường sử dụng các hình thức quảng cáo sát với “thời điểm ra quyết định mua” của khách hàng.

    - Tìm tới và sử dụng các biện pháp giá rẻ hoặc miễn phí trên Internet

    December 17

    A low-tech man can’t dream!

    Đang lượn web thì vấp phải bài Caravat.com - How to be different? của DucBan. Tại đó DucBan đưa ra một ý kiến xuất sắc về việc Công nghệ có tầm quan trọng hàng đầu với sự phát triển của một công ty Internet, và vì thế người dẫn đầu nó không thể là một “low-tech man” (một cách chơi chữ đối nghịch với high-tech man). Điều cũng khá ngạc nhiên là nhiều bạn đọc dễ dàng bị từ “low-tech” đánh lừa cảm giác, nhìn nhận nó như một sự phỉ báng/phê phán CEO của Cravat, từ đó bình luận trệch hướng với ý tưởng gố của DucBan.

    Như vậy tôi quyết định nhảy vào với vài dòng làm rõ thêm quan điểm của Ducban.

    Thành công của Microsoft, Apple, Yahoo, Google, FaceBook gắn với tên tuổi của các high-tech man (Bill Gates, Steve Jobs, Jerry Yang, Larry Page and Sergey Brin, Mark Zuckerberg) , và thất bại của các công ty này đồng hành cùng với các business man (Terry Semel của Yahoo, John Sculley của Apple).  Apple đã có một bước đi sai lầm quan trọng khi mời John Sculley về làm CEO của họ, kết quả là Steve Jobs phải rời bỏ công ty do chính mình dựng nên, để cho nó bị tàn phá và lăng nhục bởi đối thủ trong nhiều năm. Và chỉ khi tới khi Steve Jobs quay trở lại với Apple, ông – a high-tech man that dare to dream, mới khiến được Apple hồi sinh trở lại, rực rỡ và thành công như ngày hôm nay.

    Khi Steve Jobs mời Sculley từ Pepsi về giữ chân CEO cho Apple, ông hỏi 

    Do you want to spend the rest of your life selling sugared water or do you want a chance to change the world?

    Và Sculley a business man, với chiến lược, tầm nhìn, kế hoạch, tài chính, nhân sự (tương tự như lời bình luận của ThuanNgoc tại bài post trên), đã không những không thể thay đổi cả thế giới mà còn dẫn Apple rơi vào rơi vào bế tắc.

    Để một bộ phim thành công, bạn cần tiền, nhưng cái bạn cần hơn là một đạo diễn và các diễn viên xuất sắc.  Van Gogh, Chopin tạo ra các kiệt tác chứ không phải các nhà buôn tranh hay một ông bầu ca nhạc. Thế giới công nghệ cũng vậy, các nghệ nhân công nghệ là cốt lõi của thành công, chứ không phải bộ óc tính toán lạnh lùng của các thương gia.

    Và tất nhiên, khác với thế giới nghệ thuật, thế giới công nghệ có các lý do riêng của nó. A high-tech man có thể làm nên những điều kỳ diệu bởi vì:

    • Họ dám mơ ước thay đổi cả thế giới
    • Họ hy sinh tất cả để làm được điều này
    • Họ sẵn lòng đi ngược lại tất cả để tạo ra đột phá
    • Họ đặt sáng tạo, đổi mới lên trên các thông lệ
    • Họ coi trọng vẻ đẹp hơn các kết quả tài chính  mang lại từ chúng.
    • Họ dẫn đầu cả một đoàn người dám ước mơ và đầy sức sáng tạo

    Và chẳng có gì ngạc nhiên khi thế giới đền đáp lại họ thật xứng đáng bởi những đột phá mà họ tạo ra. Thượng đế luôn công bằng mà lại.

    December 06

    Cyvee Review và vài vấn đề về phát triển mạng xã hội

    Dặn trước

    * Tiện hôm đọc một dãy bình luận của các “phân tích gia về MXH”, ngứa tay viết một bài

    *  Bài này viết theo kiểu nhảm nhít, bác nào đọc phải mấy điều khó chịu mà sinh khó ở trong mình thì chạy ra kiếm cốc nước uống cho đỡ tức, rồi vào đây đọc tiếp.

    Cyvee Review

    Có vài thứ ảnh hưởng tới hướng đi của MXH, cộng đồng hay cái khỉ mẹ gì đó

    1. Chức năng, công cụ, sản phẩm

    Không có profile khai CV thì khó mà tạo nên MXH nghề nghiệp, không có blog thì dựng vào mắt MXH các nhà văn. Hoặc ném vào mặt một MXH nghề nghiệp các công cụ share ảnh nude, mp3 thì được ba hôm cái lõi của mạng nghề nghiệp sẽ tan vỡ. Và team CyVee đã khá thành công trong việc làm vỡ tan lõi quan hệ nghề nghiệp, bằng cách đưa vào chức năng thảo luận nội dung theo mô hình kiểu Digg.

    Chức năng có mấy kiểu

    * Generic communication tools: PM, lưu bút, email, v.v...

    * Các apps chuyên sâu được thiết kế chuyên biệt cho mạng nghề nghiệp. Ví dụ hỏi đáp, tư vấn, hay những thứ lởm lít gì đấy mà bạn MXH 2.0 đề xuất. Một ví dụ điển hình là cái nút vote ảnh của trang iPro, làm nút vote thì ai cũng làm được, nhưng thiết kế đủ đẹp, chọn chỗ cho nó nằm thật hợp lý thì mỗi nút vote sẽ khiến gái post ảnh tưởng như nghe được câu "anh yêu em", nhờ vào đó điên cuồng post ảnh. Chất lượng các apps này sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới phát triển, và hướng đi của sites.

    * Các apps chung, được triển khai theo cốt lõi của mạng. Ví dụ: chức năng hỏi đáp của Yahoo Hỏi đáp được chia category rất phù hợp; hoặc các box của Diễn đàn tin học, được chia phù hợp với bản chất định hướng của diễn đàn.

    * Và một số kiểu dở hơi nữa ngại nói vì dài ...

    2. Early Adopters, Core Users, Innitial contents

     

    Như mấy bạn ở trên đã lưu ý, cùng một hệ thống chức năng forum thì có hàng chục diễn đàn phát triển theo hàng chục kiểu. Lý do chính tạo nên sự khác biệt chính là nhóm user ban đầu, nhóm user cốt lõi, hoặc cách tổ chức nội dung ban đầu. Kéo theo việc lựa chọn nhóm users ban đầu để xuất phát điểm sẽ trở nên quan trọng nhất.

    Cyvee vấp ngay sai lầm này từ bước một khi mở rộng một cách vội vã user ngay từ đầu thông qua việc PR rầm rộ, kết hợp với mail invitation - khéo theo hệ thống mạng lưới quan hệ phát triển theo một cách hoàn toàn "không nghề nghiệp".

    Thuốc chữa tất nhiên lúc nào cũng có, nhưng mục đích của tớ ở đây chỉ là show hàng, chứ không phải tư vấn miễn phí. Vì thế mấy bạn CyVee ráng làm, ráng chịu.

    3. Admin

     

    Một MXH không cần admin vẫn có thể thành công rực rỡ, và cách tốt nhất là nó không nên có admin (admin giỏi thì nên bỏ thời gian đi code, đi vẽ sản phẩm, đi bán quảng cáo, còn hơn là đi cãi cọ với mấy user dở người dở ngợm).

    Thế nhưng nếu admin ngon, bổ và rẻ thì còn gì bằng? Admin có nhiều công cụ để can thiệp, tác động, điều hướng hệ thống:


    * Xây dựng và thi hành luật lệ. Thằng nào nói quá 15 câu trên Diễn đàn trong 1 ngày là tao chém đầu bêu cọc. Tự dưng DDTH sẽ toàn thằng câm. Vào Sàn nhạc hát xong là phải nở nụ cười, nghe xong là phải nịnh nọt thằng hát - tự dưng vào đấy lần nào cũng gặp 50% số nụ cười là giả dối.

    * Phát triển văn hóa. Thông qua các khẩu hiệu, tầm nhìn, hành vi hướng dẫn. Ví dụ Tathy khẩu hiệu là hào hoa, trí tuệ, dâm đãng và bỉ - kết quả là sinh ra một lũ bác học, nghệ sỹ suốt ngày rỉa rói nhau, lúc nào chán thì quay ra rỉa rói xã hội - theo một cách rất vui, hài hước và khốc liệt. Hoặc vào Cyvee là phải đi nhẹ, nói khẽ, cổ đeo cà vạt, tay cầm quyển sách thương hiệu, định vị, marketing và thiết kế giao diện. Kết cục không tránh khỏi sẽ là cứ vào CV là thấy anh nào cũng giống bạn giai đầu hói ixx tới tám chín phần.

    * Featured, Highligted contents. Admin hoặc mod có thể đẩy lên trang chủ các nội dung theo chủ đề nhất định để điều hướng phát triển của MXH, hoặc cộng đồng. Ví dụ đơn giản như một site ảnh ọt nọ, vào vài lần lần nào cũng thấy post ảnh gái cởi truồng, hở ngực, mông nở - với sự tự nhiên đấy sau một thời gian cave sẽ vào post ảnh làm hàng, công nhân vào thủ dâm miễn phí. Và kết cục cuối cùng site đấy sẽ biến thành một P-o-r-n-o City. Điển hình quốc tế chính là hai site YouTube và Portube, chức năng đâu khác nhau mấy, cơ bản là thằng admin muốn nó biến thành cái gì.

    Đọc mấy trang các bạn cãi nhau, bạn bảo 1, bạn bảo 2 bạn bảo 3 mới là đúng, tóm lại bạn nào cũng bảo chỉ có tôi mới là đúng. Thực ra các bạn đều đúng tất, tức là cả 1,2,3 đều đúng, không chừng còn 4,5,6,7,8,9,10 cũng đúng cả.

    Có điều, rốt cuộc thì nên làm theo cách nào? Câu trả lời đơn giản: có súng dùng súng, có gươm dùng gươm. Công ty có anh hói uxx thì nên đẩy sản phẩm bằng nội dung, thương hiệu, có anh MXH 2.0 thì nên phát triển MXH những kẻ thất bại, có anh U23_VN thì nên chọn cái mạng nào mà càng chửi nhau nhiều càng tốt. Còn công ty tuyển bạn Dát gud thì nên trọng tâm vào chức năng sản phẩm. Trường hợp công ty có cả 4 anh trên thì nên đuổi bớt 3 anh, giữ lại một anh hợp với sếp nhất. Vì nếu để lại cả 4 anh thì riêng việc ngồi nghe mấy anh tranh luận, xong phân xử xem anh nào đúng, anh nào sai anh nào đúng cũng đủ hết ngày. Tốt nhất là giữ thằng nào hợp với mình nó giải thích cái gì mới mình cũng cảm thấy mình đỡ ngu. Trường hợp cực đoan nhất chẳng may giám đốc dí cho bạn anh HuyCanvn, thì cách tốt nhất là bạn nên sa thải anh giám đốc. Làm tớ thằng khôn hơn làm thầy thằng dại, đây lại có một thằng vừa dại vừa ngu vừa thích làm sếp mình, giám đốc mà trình độ thấp thế chả tự xin thôi việc đi còn ở đấy làm gì.

    Tất nhiên, phần trên là quy tắc chung, còn tớ hành động theo quy tắc riêng. Đơn giản như vầy: gọi 4 anh vào bảo chúng mày làm hòa được với nhau đi, chờ xem 4 anh không hòa được với nhau không, nếu không thì tớ chọn anh làm sản phẩm. Vì một lý do đơn giản, thằng làm sản phẩm là thằng rẻ nhất, sử dụng được lâu nhất, và tính tích lũy cao nhất - đặc biệt là lúc mình không có tiền trả lương có khi nó bán cả nhà nó đi để làm tiếp sản phẩm nó yêu. So so, Dear Dát gud! Your are choosen.

    September 03

    My 2.0 way - phần 1

    Nhân dịp bé Chip vặn hỏi mấy lần "anh làm web, vậy khi nào ra tiền?", đây cũng là một câu hỏi nhiều người thắc mắc. Đã thế tiện thể trả lời luôn một đống câu hỏi nhiều người thắc mắc. Nếu bạn có đọc, hãy nhớ bài viết này có tiêu đề là MY WAY, tức là cách mà tôi làm, cách mà tôi tin tưởng - nó có thể sai hay đúng, điều đó không quan trọng, quan trọng rằng đó là cách mà tôi tin tưởng.

     

    1. Doanh thu/Lợi nhuận

    Chip:  "Anh làm web, vậy khi nào ra tiền?"  Đáp "Anh cũng chả biết, khi nào ra thì biết"

    Tuy vậy, có vài điều tôi biết, đó là website tạo ra giá trị cho người dùng thì chính website đó sẽ có giá trị, giá trị người sử dụng là cơ sở để tạo ra money return; và vào lúc bắt đầu nếu vội vàng nghĩ tới kiếm tiến ngay thì sẽ xao lãng khỏi việc xây dựng được một website hoặc một dịch vụ web có giá trị. Tới một lúc nào đó, sẽ phải nghĩ tới kiếm tiền, nhưng chờ tới lúc đó rồi hẵng nghĩ.

    Hỏi "Như vậy có quá điên rồ không?" Đáp "rất điên rồ là đằng khác, nhưng liệu còn lựa chọn nào khác không?"

     

    2. Copy/Clone

    copyleft-bo-200Từ vài năm rồi, tôi vẫn sử dụng biểu tượng CopyLeft để làm avatar cho chính mình. Tri thức, ý tưởng, tài sản trí tuệ sẽ phát huy hiệu quả và mang lại giá trị xã hội lớn nhất khi được tự do chia sẻ và cải tiến. Và thường tôi cho rằng chẳng có lý do gì ngần ngại khi bắt đầu bằng bằng một ý tưởng của ai đó, ở đâu đó hay sử dụng mã nguồn mở - nó giúp chúng ta khởi đầu nhanh hơn

    Tuy vậy, copy/clone không có nghĩa là copy mù quáng, sao nguyên bản những gì chúng ta nhìn thấy. Mà là quá trình nhận diện các giá trị phù hợp để chuyển tải vào sản phẩm của mình. Copy/clone cũng cần smart và thận trọng

     

    3. Cải tiến/Sáng tạo/Innovate

    Hỏi  "Bạn có coi trọng innovation?". Đáp "Tôi buộc phải làm vậy". Quá rõ ràng - Internet là innovation, liên tục, liên tục và liên tục.

    Innovation bao gồm:

    • Sáng tạo mới - nghĩ ra một thứ hoàn toàn mới
    • Copy chức năng từ ngoài - bổ sung các chức năng học tập được từ đâu đó
    • Tái đóng gói - sắp xếp lại các chức năng cũ, đóng gói chúng sang chỗ khác
    • Cải tiến nhỏ -  sửa chữa vài chi tiết cho phù hợp hơn
    • Cắt bỏ - gạt bỏ những gì thừa, những gì không còn phù hợp.

    Cắt bỏ là cái mà chúng ta thường không coi là innovation và ngại làm, vì tiếc công sức, vì ngại thay đổi, vì quên khuấy - nhưng lại là cái cần thiết, vừa giúp sản phẩm sạch sẽ, dễ dùng hơn, vừa tiết kiệm nguồn lực.

     

    Dự kiến phần tiếp theo

    4. Sản phẩm - hoàn hảo hay lệch lạc?

    5. Chiến lược định trước hay dò dẫm?

    6. Dựa vào đâu để tin tưởng thành công?

    7. Sử dụng Nguồn lực?

    August 20

    Vài ứng dụng Internet trong doanh nghiệp

    Một vài phương pháp ứng dụng nhanh Internet giúp cải thiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong vòng 2 tuần - 1 tháng doanh nghiệp đã có thể áp dụng các biện pháp đơn giản, miễn phí nhưng mang lại hiệu quả thực tế. Thời gian này vừa giúp doanh nghiệp làm quen, hiểu biết hơn về Internet để chuản bị cho các giải pháp ứng dụng ở mức cao hơn.

    Cũng nên lưu ý những biến đổi gốc rễ về cấu trúc độc giả Internet cũng như marketing trên internet

    Xem chi tiết trong slide hội thảo dưới đây

    Ứng dụng Internet trong doanh nghiệp 
    View SlideShare presentation or Upload your own.
    June 20

    Yahoo tiếp tục đánh mất các keyperson quan trọng nhất

    1 tuần sau khi Yahoo chính thức ký với Google một hợp đồng đầu hàng, hàng loạt nhân sự cao cấp đã rời bỏ Yahoo

    A. Các vị trí quản lý và công nghệ chủ chốt

     

    1. Jeff Weiner

    Jeff Weiner là the Executive Vice President of Yahoo!’s Network Division. Weiner quản lý một loạt các sản phẩm quan trọng của Yahoo, bao gồm Yahoo.com, My Yahoo!, Yahoo! Mail, Yahoo! Messenger, Yahoo! Groups, Flickr, Yahoo! Web Search, Yahoo! Answers, Yahoo! Shopping and Yahoo! Local, Yahoo! Finance, Yahoo! News, Yahoo! Sports and Yahoo! Entertainment. Trong giai đoạn 2002 tới 2006, Weiner giữ vai trò Phó chủ tịch cao cấp lĩnh vực tìm kiếm và thị trường.

     

    Vish Makhijani

    Vish Makhijani, the SVP and General Manager of Search - người đứng số 1 về search của Yahoo đã ra đi. Điều có vẻ hiển nhiên, khi mà Yahoo đã chính thức đầu hàng Google trên lĩnh vực tìm kiếm.

     

    Usama Fayyad,

    Chief data officer and EVP về các giải pháp dữ liệu. Fayyad chịu trách nhiệm về việc "đào bới" kho dữ liệu hàng terabytes để cải thiện việc giới thiệu nội dung và quảng cáo phù hợp hơn cho người dùng - là một trong các công nghệ quan trọng nhất của Internet.

     

    Qi Lu

    EVP Qi Lu, the EVP engineering for Search and Advertising Technology Group. Qi Lu là kiến trúc sư của Panama ad platform. Và sự ra đi của Qi Lu là hiểu được khi Yahoo đã "bán" monetization cho Google. Tuy vậy, Panama không chỉ là search ads mà còn là display ads - và sự ra đi của Qi Lu sẽ khiến cho lĩnh vực display ads cũng rơi vào rủi ro suy yếu.

     

    Brad Garlinghouse

    Brad Garlinghouse kiểm soát các tài sản lớn nhất của Yahoo về truyền thông và cộng đồng như: Mail (260 triệu người dùng), Messenger (100 triệu người dùng), Groups (110 triệu người dùng), Flickr (47 triệu) and Zimbra. Không liên quan tới search, nhưng Brad Garlinghouse điều hành các mảng mà Yahoo vẫn tự hào là dẫn đầu. Theo Techcrunch thì Brad Garlinghouse đã khiến tất cả các mảng anh điều hành chiếm vị trí số 1 thị trường, ngay cả khi Yahoo thất bại về search. Sự ra đi của Brad Garlinghouse đặt dấu hỏi cho sự thành công của một loạt cách khởi xướng gần đây của Yahoo liên quan tới portal và unified profile, cũng như YOS (Yahoo Open Strategy). Cũng như là dấu hiệu cho thấy các mảng dịch vụ dẫn đầu của Yahoo không còn tin vào Jerry Yang và tương lai của Yahoo.

     

    Bình luận

    Sự ra đi của các lãnh đạo chủ chốt này không chỉ đánh dấu thất bại của Yahoo trong search và search ads, mà còn * đe dọa tương lai các tài sản chủ chốt của Yahoo như portal, tương tác/cộng đồng * đặt dấu hỏi lớn vào khả năng thực thi chiến lược tăng trưởng mới Yahoo đã vạch ra cho năm 2009 bao gồm: YOS, ngành dọc hóa (verticalization) và điểm xuất phát (internet starting page) * cho thấy Jerry Yang đã "thuyết phục" chính nhân viên của mình như thế trong vụ MicroHoo và Google

    B. Innovation

     

    Jeremy Zawodny

    An evangelist of what's now become the Yahoo Open Strategy. Yahoo Open Strategy (YOS) được giới thiệu cách đây hơn 1 tháng và được nhìn nhận như một bước đi chiến lược độc đáo, đầy triển vọng của Yahoo trong việc khai thác sức mạnh của các trang "điểm xuất phát vào Internet" hàng đầu do Yahoo nắm giữ như Ymail, Yahoo.com, MyYahoo và các portal ngành dọc. Việc ra đi của Jeremy Zawodny đặt dấu hỏi lớn vào niềm hy vọng chiến lược này của Yahoo

     

    Stewart Butterfield and Caterina Fake

    Hai vợ chồng sáng lập Flickr, một trong các website nổi tiếng thế hệ web 2.0, nơi chia sẻ những bức ảnh đẹp và được mệnh danh là "cửa sổ nhìn vào thế giới", và cũng là website dẫn đầu trong các innovation công nghệ cũng như trải nghiệm khách hàng. Flickr được Yahoo mua lại cách đây vài năm.

     

    Joshua Schachter

    là người sáng lập của delicious, website chia sẻ bookmarks hàng đầu thế giới, nơi bạn chia sẻ và tìm kiếm các link chất lượng cao còn dễ dàng hơn cả Google. Tương tự như Flickr, delicious là đại diện cho sức sáng tạo về công nghệ và trải nghiệm khách hàng của các web 2.0 và được Yahoo mua lại.

     

    Bình luận

    Việc ra đi của Jeremy Zawodny,Stewart Butterfield and Caterina Fake và Joshua Schachter khiến người ta phải nghi ngờ về * Năng lực tiếp tục đổi mới sản phẩm của Yahoo * Niềm tin của lực lượng đổi mới vào Jerry Yang và tương lại của Yahoo * Việc Jerry Yang đã bắt chấp ý kiến của đội ngũ nhân viên trong việc chối bỏ hợp đồng bán lại cho MS và đầu hàng Google. Danh sách còn dài và sẽ còn tiếp tục tăng, và bạn có thể xem danh sách những người ra đi và sẽ đi đâu cho tới cách đây vài ngày tại TechCrunch.

    Cập nhật liên tục- stay tuned.

     Update 1:

    Scott Moore, who heads Yahoo Media Group, và Tapan Bhat, responsible for the front door and network services, could leave as well.

    Thảo luận tại:  http://bnok.vn/tanng/

    June 15

    Hợp đồng Yahoo/Google - sự đầu hàng toàn diện!

    Cảm giác đầu tiên khi đọc được tin Yahoo ký hợp đồng khai thác quảng cáo search với Google là "khó hiểu và thất vọng". Yahoo kiếm được một khoản tiền, giữ được độc lập nhưng tự tay Jerry Yang đã xoá bỏ tương lai của Yahoo và đội ngũ của mình. Sau đây là một vài suy nghĩ nhanh gọn

    1. Đầu hàng về công nghệ

    Bán quyền khai thác search ads cho Google với kỳ vọng năm đầu tiên sẽ có doanh thu thêm được vài trăm triệu, có nghĩa là Jerry Yang tự khẳng định với các nhà quảng cáo rằng

    * Công nghệ quảng cáo của Google vượt trội về hiệu quả so với công nghệ của Yahoo.

    * Yahoo không còn ý định, không đủ khả năng và đánh mất toàn bộ quyết tâm cải tiến công nghệ, đầu tư phát triển cho hệ thống Panama.

    2. Không có một kế hoạch lâu dài nào cho search và search ads

    * Nỗ lực của Yahoo chỉ nhằm để có được một khoản tiền. Kể từ lúc Jerry Yang trở lại nắm quyền, chưa hề có một thông báo nào đáng kể về các nỗ lực đầu tư vào search, cũng như cải thiện công cụ kiếm tiền từ search.

    * Nhiều nhà phân tích đã phải ngạc nhiên rằng nếu đã đầu hàng, vậy tại sao không bán cho Microsoft (xem đề xuất của MS) - người sẵn sàng trả giá cao, người sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến search engine.

    3. Đánh mất vị thế ngắn hạn và chiến lược trên thị trường quảng cáo

    * Nhà quảng cáo search ads sẽ làm gì khi họ được thông tin rằng Yahoo kém hơn và không có ý định cải tiến? Họ sẽ nhanh chóng chuyển sang dùng AdWords của Google để mua quảng cáo trên Yahoo. Yahoo sẽ nhanh chóng đánh mất toàn bộ số khách hàng.

    * Chuyển giao thị trường quảng cáo search vào tay Google, cho phép đối thủ của mình trở thành monopoly trên thị trường search ads, chỉ sau vài năm liệu Yahoo có còn giữ được địa vị thương thảo, hay mặc cho Google kiểm soát thị trường với quyền lực định giá và tỷ lệ chia sẻ lợi nhuận theo cách họ muốn. Tại sao không bán nó cho Microsoft để họ tạo sức ép lên vị thế cạnh tranh của Google.

    * Vị thế chiến lược của Yahoo trên thị trường display ads cũng bị suy yếu nghiêm trọng. Bây giờ họ chỉ còn là một nhà quảng cáo display như bao nhà quảng cáo display khác, với công cụ Panama mà chính họ thừa nhận là thất bại và từ bỏ nỗ lực cải tiến.

    4. Đánh mất vị thế dài hạn vì một khoản tiền ngắn hạn.

    Chỉ vì một khoản tiền 400-800 triệu/năm, và mong muốn độc lập với Microsoft - Yahoo đã đi một bước quá sai lầm về chiến lược khi tự họ tiêu diệt mọi cơ hội và nỗ lực cho tương lai

    Nhiều người còn thắc mắc rằng "Tại sao Jerry Yang không bán mảng search và search ads cho Microsoft (một đề xuất rất có lợi cho Yahoo)?". Câu trả lời có lẽ đã quá rõ ràng "Jerry Yang hành động vì bản thân mình, không vì quyền lợi của cổ đông, nhân viên, hay cả công ty".

    Và tôi đồng ý với nhận định của Michael Arrington về hợp đồng này, tuy rằng Tim Orreily có một cách nhìn khác.

    Tham khảo thêm tại techmeem

    Update 1

    NewYork Times cũng buộc tội Yahoo

    You’ve chosen to become a pawn of the most dominant company on the Internet. How exactly is that going to lead to a brighter future for Yahoo?

    Blog.wired.com: Yahoo Customers Pan Google Ad Deal

    "The quality of the Yahoo pay-per-click system has gone down the drain, and it seems like they did [the Google deal] to bail out instead of listening to advertisers and figuring out how to fix the system. From the sound of it, this is terrible news for everyone."


    April 12

    Bản quyền đã chết

    Bản quyền vốn dĩ vẫn được coi là công cụ hữu hiệu bảo vệ lợi nhuận của mô hình kinh doanh trên cơ sở hạn chế phân phối tự do những sản phẩm có khả năng sao chép. Nhưng mọi chuyện giờ đây đã thay đổi.

    Một khái niệm lỗi thời

    Tại Hội nghị Chính sách phân phối Video trên Internet tổ chức tại Washington ngày 20/3 vừa rồi, Giáo sư Faulhaber, Đại học Pennsylvania đã mạnh mẽ tuyên bố mạnh mẽ: bản quyền là một khái niệm đã chết.

    “Cho đến giờ thì bản quyền vẫn là vấn đề lớn trong lĩnh vực pháp lý. Nhưng trong lĩnh vực kinh doanh, nếu bạn vẫn còn nói với người tiêu dùng về việc bảo vệ bản quyền thì thật là lỗi thời. Nếu như bạn có mô hình kinh doanh dựa trên bản quyền, hãy quên luôn nó đi.”

    Giáo sư Gerry Faulhaber là giáo sư của Trường kinh doanh Wharton, Đại học Pennsylvania và cựu giám đốc kinh tế của FCC.

    Tại hội nghị này, nhiều nhà kinh tế đã cũng thống nhất quan điểm cho rằng, với việc kinh doanh nội dung trên internet, các chủ sở hữu nội dung đang phải đối mặt với thách thức khó khăn họ chưa từng biết đến.

    Theo Faulhalber, “thế giới sao chép mở” (world of open piracy), tạo ra với công nghệ số, sẽ phá hỏng việc tìm kiếm tìm kiếm động lực mà sự độc quyền trao cho những chủ sở hữu nội dung nhờ luật bản quyền.

    “Ngành công nhiệp ghi âm hiện nay đã hiểu ra điều này. Mô hình iTunes hiện nay có lẽ là cách tốt nhất họ có thể làm. Với cả phim và âm nhạc điều này có vẻ đều dẫn tới kết quả doanh thu về căn bản thấp hơn với những người sở hữu nội dung.”

    Các hãng phim sẽ gặp phải những khó khăn thậm chí còn hơn những công ty âm nhạc vì theo Faulhalber, một vài phương thức kiếm tiền có thể áp dụng hiệu quả với âm nhạc như quảng cáo không thể áp dụng với những bộ phim dài.

    Lập luận của giáo sự Faulhaber được ủng hộ mạnh mẽ từ thực tế, khi mà trước đó không lâu, chính ông chủ âm nhạc Warner Music đã phải đứng ra xin lỗi người tiêu dùng khi sử dụng bản quyền như một công cụ kiện cáo, từ chối đáp ứng nhu cầu thực tế của người nghe nhạc số.

    Từ mã nguồn mở…

    Mặc dù những lời than phiền về vị thế độc quyền của Microsoft vẫn ngày càng nhiều từ xưa tới ngay, nhưng ít ai ngờ rằng Linux, hệ điều hành mã nguồn mở, lại thay đổi bộ mặt, hoặc ít nhất thay đổi quan niệm của giới phần mềm đến vậy.

    Theo TheCounter.com - dịch vụ phân tích website của Công ty Jupitermedia - hiện khoảng 1/2 số máy chủ trên thế giới và 18% các trình duyệt đang sử dụng phần mềm mã mở.

    Các hãng cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu như Google, Yahoo phát triển toàn bộ hạ tầng của họ dựa trên các nền tảng mã nguồn mở như LAMP (Linux, Apache, PHP, MySQL), Haadoop.

    90% các công ty Internet mới thành lập sử dụng LAMP vì các nền tảng này vượt trội các phần mềm bản quyền trên phương diện chi phí, linh hoạt và tự do đổi mới sáng tạo. 80% trong số các site internet hàng đầu chạy trên các nên tảng mã nguồn mở.

    Kho tri thức lớn nhất thế giới Wikipedia (với 10 triệu bài viết) hoạt động hoàn toàn trên nền tảng mã nguồn mở với phần mềm mediawiki trên nền tảng LAMP.

    Không có mã nguồn mở, Internet sẽ mãi mãi là một đứa trẻ chưa lớn. Trong một thế giới toàn phần mềm bản quyền, Internet sẽ chết.

    Bởi vì phần mềm mã nguồn mở là miễn phí, một lập trình viên tài năng có thể ngồi xuống và bắt đầu phát triển ngay một website của mình chỉ với 2,000 USD, thay vì việc phải chạy hàng năm trời để kiếm một nhà đầu tư hào phóng chi cho anh ta vài trăm ngàn USD để mua phần mềm bản quyền.

    Sergey Brin và Larry Page bắt đầu sự nghiệp của mình với mã nguồn mở và chỗ làm việc là một gara ô tô – họ đã tạo dựng lên Google - nhà cung cấp dịch vụ số 1 Internet, công ty duy nhất khiến đại đế chế phần mềm bản quyền Micrsoft cũng phải run sợ. Google và mã nguồn mở là tương lai, Micsoft và phần mềm bản quyền là quá khứ - lịch sử đã lặp lại, Google đang đe dọa Microsoft như ngày nào chính Microsoft đã từng đe dọa IBM.

    Mã nguồn mở không chỉ là miễn phí, nó còn là tự do: tự do sáng tạo, tự do chia sẻ tri thức, tự do đóng góp, tự do quyết định hướng đi của mình.

    Một người làm Internet thay vì việc phải lo lắng xem nền tảng công nghệ của họ sẽ bị nhà độc quyền lớn nhất lái đi theo hướng nào sẽ cùng cộng đồng mã nguồn mở quyết định hướng đi công nghệ của họ.

    Họ cũng không còn phải lo ngại việc phải đối diện với các vụ kiện cáo bản quyền khi sử dụng mã nguồn của người khác. Hòa mình vào thế giới mã nguồn mở, bạn có thể đứng trên vai người khổng lồ, sử dụng 99% mã nguồn của người khác, bổ sung thêm 1% sáng tạo của mình để tạo ra giá trị gấp 100 lần so với việc phải tự làm tất cả.

    Người được lợi cuối cùng chính là người dùng Internet, 100% top 20 sites trên thế giới, cung cấp dịch vụ của họ miễn phí cho người sử dụng.

    .. đến nội dung mở

    Dẫu sao, mã nguồn mở mặt nào đó vẫn được coi là sáng tạo riêng biệt của giới công nghệ. Ít ai ngờ nó tác động mạnh mẽ và thú vị đến lĩnh vực phân phối nội dung

    Phong trào Sử dụng Nguồn tư liệu Giáo dục mở bắt đầu từ cuối những năm 1990, một phần do tác động của phong trào “phần mềm mã mở”.

    Năm 2001, Viện Công nghệ Massachussetts (MIT) đã trở thành người tiên phong cung cấp tài liệu miễn phí về các khoá học trên internet. Dự án Chương trình học liệu mở (OpenCourseWare) của trường hiện cung cấp các bài giảng, bài thi và nhiều tài liệu khác được lấy từ trên 1.800 khoá học trong chương trình giảng dạy của trường.

    Hiện đã có khoảng 40 triệu người từ hầu hết các nước đã truy cập tài liệu của trường, trung bình mỗi tháng có khoảng 1 triệu người truy cập. Gần 49% lượng người truy cập là đối tượng tự học, trên 35% sinh viên và 16% các nhà giáo dục.

    Không nhiều người trong số 100 triệu người truy cập hàng tháng vào Wikipedia biết rằng kho tri thức vĩ đại này được xây dựng trên nguyên tắc nội dung mở - cho phép người sử dụng tự do sao chép, sửa đổi, trích dẫn, đóng góp vào nội dung với mục đích thương mại hoặc phi thương mại.

    Đi ngược lại với nguyên tắc bản quyền nội dung truyền thống với việc mỗi khi bạn muốn bổ sung, sao chép, trích dẫn đều phải xin phép và được sự đồng ý của tác giả, nội dung mở đã tạo điều kiện cho hàng trăm ngàn chuyên gia cùng đóng góp, hàng triệu người cùng xem xét và sửa đổi kho tri thức này.

    Cho tới nay Wikipedia với nguyên tắc nội dung mở đã làm được điều mà đế chế tri thức Britanica không làm được, đế chế tài chính Micrsoft không làm được: 10 triệu bài viết, được bổ sung, cập nhật, chỉnh sửa, đi sâu vào các lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa, công nghệ, v.v..

    Hãy thử tìm cụm từ “The long tails” – một khái niệm kinh điển cho người làm Internet, bạn không thể tìm thấy nó trong bách khoa toàn thư Encatar của Microsoft, nhưng trong Wikipedia bạn sẽ dễ dàng tìm thấy lời giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, cũng như các đường link tham khảo cho khái niệm này.

    Điều mà bản quyền, chuyên gia, và tiền bạc của Microsoft không thể làm được, thì Wikipedia cùng với cộng đồng và triết lý nội dung mở đã làm được.

    Trên Internet, nội dung mở là động lực, bản quyền là rào cản. Thứ đã từng là động lực phát triển của xã hội, nay trở thành trở lực ngăn trở tiến bộ. Một điều thú vị là triết lý nội dung mở tương đồng một cách kỳ lại với triết lý về một xã hội mơ ước: “đóng góp nội dung theo năng lực, tiêu dùng nội dung theo nhu cầu”.

    Theo Vneconomy Đức Anh

    Note: phiên bản ở đây là bản gốc hơn so với bản đăng trên VnEconomy nên có một chút khác biệt

    March 27

    ZoomBan vs Tầm Tay, Yobanbe, FaceViet, GuongMat, Cyvee

    Gần đây trong một số thảo luận, trao đổi - nhiều người so sánh ZoomBan với các mạng xã hội khác như Tầm Tay, Yobanbe, FaceViet, GuongMat, Cyworld, Cyvee, cũng như đưa ra một vài dự báo ai sẽ thắng ai. Tuy vậy, góc nhìn của tôi có hoàn toàn khác. Trong một bài viết trước đây về các loại mạng xã hội , tôi đã từng nhắc tới 3 loại mạng điển hình: Relationship centric, content centric và ego centric.

    • Tầm Tay là mạng content centric, FaceViet có xu hướng dịch chuyển về content centric,
    • Yobanbe, CyWorld thiên về Ego centric - cũng đang dịch chuyển về content centrics,
    • Cyvee với mục tiêu trở thành business relationship centrics nhưng có vẻ đang bị lái thành content centric với các tính năng hỏi đáp, thảo luận, tin tức quá mạnh.
    • GuongMat vẫn keep core, nhưng không có được bước tiến đáng kể - đồng nghĩa với việc họ đã thất bại.

    Còn về ZoomBan - nó thực sự là một FaceBook clone, giữ vững core của FaceBook là real man, real relationship với slogan tạm thời "ZoomBan luôn nói thật". Nói cách khác ZB đi con đường khác hoàn toàn với các  website Việt nam, sự thành công/thất bại của ZB không liên quan tới Tầm Tay, Yobanbe, FaceViet, GuongMat, Cyvee, Cyworld hay thậm chí Y360. Đối thủ trực diện của ZB có lẽ chính là FaceBook chứ không phải ai khác. Tuy vậy, mức độ thâm nhập thị trường của FaceBook tại Việt nam chưa thật cao. Điều này có nghĩa là ZB phát triển được hay không có lẽ phụ thuộc chính vào việc họ có đáp ứng đúng được nhu cùa người sử dụng hay không? có đặt mũi nhọn marketing của mình đúng vào tập hợp khách hàng đang đòi hỏi các core value họ đang có hay không? và có innovate kịp thời, liên tục để thích ứng với các áp lực thay đổi đến từ khách hàng hay không?

    Tham khảo thêm http://www.web2vietnam.com/2008/03/26/back-to-web2vietnam-dot-com/

    December 08

    Hoàng Sa/Trường Sa, Trung Quốc và thái độ sống - udpate

    Nói chung lần này là một ví dụ điển hình cho sự thất bại trường phái hôn đít. Cứ tưởng là hôn đít nó một lần thì nó sẽ yêu mình, quý mình, trọng đãi mình. Nhưng không phải, cứ 10 năm một lần nó sẽ lấn mình một chút, dần dần chẳng còn gì. Ngay lúc này vẫn còn vài chú muốn hôn đít Tàu. Tất nhiên là đối đầu với nó không lại rồi, nhưng không lại thì sao? Đằng nào chẳng chết, chết béng ngày hôm nay, còn hơn chịu nhục xong rồi mới chết. Tiến lên thì còn cửa sống (tuy nhỏ), lùi lại thì chết là chắc. Với lại sống mà chỉ để bàn tán chuyện cave, khen phò sang với lại xem phim sex Vàng Anh thì sống làm đe'o gì.

    1. Lên tiếng của Blog Oshin - Huy Đức

    http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=1601#comments

    2. Blog Bùi Thanh với tinh thần độc lập

    http://blog.360.yahoo.com/blog-CIrwXUUzbq_T38SajGABjc_c

    3. Tranh luận tại diễn đàn Thăng Long

    http://tathy.com/thanglong/showthread.php?p=395774#post395774

    4. Và những kẻ nhu nhược, bán nước của Diễn đàn Tin học ở đây

    * Tạo điều kiện cho bọn bán nước.

    * Ban nick, xóa bài  những người nhổ vào mặt bọn bán nước

    * Chuyển topics đấu tranh chống Tàu vào Góc Thư giãn/Chit chat

    Update: Link đã bị DDTH xóa sạch, các bài trong link còn lại cũng xóa nốt.

    Bọn DDTH này điên rồi, mất tư cách con người ròi. Làm người phải dám sống, dám bảo vệ lẽ phải. Đả đảo tàu khựa.

    Lưu ý: chỗ này không dành cho bọn chống phá chính quyền vào bàn tán. Tất cả các comment của chúng sẽ bị xóa hết