Nguyen The's profileKỷ nguyên Web 2.0BlogLists Tools Help

Kỷ nguyên Web 2.0

Thương hiệu, Chiến lược và Đổi mới trong kỷ nguyên Web 2.0
July 03

Các nguyên tố của Social Media (1)

Lười viết, tổng hợp một số ghi chép lười lại thành một bài cho để lưu

Micro Blogging

Blog lười - tại sao tôi thích

Dạo này toàn dùng Note của LinkHay để viết. Lý do mình khoái nó là:
* Đơn giản, ngắn gọn, không phải tốn sức đẽo gọt nó thành một bài blog thật hay, có lý và dễ hiểu cho số đông.
* Liệt kê ý theo kiểu vắn tắt, không tốn công format, trình bày, bổ sung bằng chứng, dẫn chứng.
* Tóm nhanh các ý tưởng, sáng kiến nảy ra trong đầu, chia sẻ cho những người có thể hiểu và bình luận nó.
* Dài hơn Twitt một tí đủ để viết có đầu có đuôi. Tĩnh hơn Twitt và có thể edit được, chứ không bị trôi đi mất.

Less is More with Twitter

Chính việc buộc phải viết ngắn trong Twitter (dưới 140 ký tự) lại tạo ra nhiều cái hay
1 - Khi người ta buộc phải viết ngắn, người ta sẽ phải chọn lọc các ý tưởng hay nhất, các từ ngữ cô đọng nhất. Từ đó tạo ra một thông điệp súc tích nhưng giàu ý nghĩa, giúp người đọc tốt ít thời gian nhất mà vẫn nắm được thông tin quan trọng nhất.
2 - Việc đọc nhanh từng nội dung (nhờ vào việc nó ngắn), giúp người đọc có thể nhanh chóng lướt qua hàng chục, thậm chí hàng trăm thông điệp để chọn được thông điệp bạn muốn đọc sâu.
3 - Các URL rút gọn hoàn toàn không chứa thông tin, khiến người đọc/người viết phải tập trung vào text
4 - @reply, @via, @RT đặt cùng với ngữ cảnh nội dung, rất đơn giản, nhưng giúp người đọc tin có một hình dung nhất định vè người được @. Từ đó tạo nên cơ chế giới thiệu hoặc phát hiện một người/nguồn tin có giá trị rất hiệu quả
5 - 140 ký tự giúp thông điệp có thể dễ dàng lên mobile, không chỉ là SMS mà còn phù hợp với màn hình nhỏ, từ đó tăng phạm vi và ngữ cảnh sử dụng
6 - Người dùng đọc từng cụm tweet, được chia bớt ra theo các nhịp 3, 5, 10 phút (thiết lập trên client), từ đó họ có thể đọc và trả lời một khối lượng lớn thông tin so với việc vào một trang web dày đặc các items.

 

Identity: Nick và Avatar

Nick name is new Real name

10 năm trước khi Internet mới vào Việt nam, nick name là tên của một người trên một website, và nhiều người đã coi mạng là ảo, nick name là cái dễ mạo danh. Tới ngày hôm nay, nick name có lẽ đã trở thành thật hơn cả tên thật. Vài trải nghiệm cá nhân
* Tôi dùng nick TanNg từ ngày dùng netnam, xuyên suốt các network tôi từng tham gia. Và tới nay, có lẽ số người biết nhận diện được TanNg nhiều hơn số người biết họ tên thật của tôi. Avatar cũng gần tương tự vậy.
* Khi tôi tham gia một mạng mới, thường khai nick TanNg, và những người từng biết tới mình, nhanh chóng nhận ra tôi thông qua nick TanNg
* Mạng phản ánh cuộc sống của con người qua góc độ con người đó sinh hoạt trên mạng. Và khi hoạt động của mọi người trên mạng ngày càng mang tính xã hội nhiều hơn: viết blog, chia sẻ ảnh, giao lưu, làm quen thì nick name lại càng phản ánh cuộc sống của con người hơn bao giờ hết. Internet life đã trở thành new real life.
* Các mạng xã hội, các công cụ social media chính là enabler hoặc chất xúc tác cho quá trình chuyển dịch cuộc sống sang internet life
* Nick name lợi thế hơn tên thật ở chỗ: duy nhất/khó nhầm lẫn, dễ dàng nhận diện, dễ dàng tham chiếu/nhắc tới, xây dựng personal brand name.
Như vậy:
* Chú ý trong việc sử dụng nick name và avatar của bạn
* Ghi nhớ rằng Internet life đã trở thành new real life

 

Social Graph, Viral và Distribution Channel

Social Graph dưới góc độ Social Media

1. Social Graph là quan hệ của bạn
* Trên FaceBook mối quan hệ là 1-1, hai người là bạn của nhau
* Bạn viết blast tâm sự, tâm tư, bày tỏ cảm xúc Bạn bè vào chia sẻ, thông cảm, giao lưu, xã giao.
* Bạn chia sẻ nội dung, ý tưởng. Bạn bè vào giao lưu, bàn tán.

2. Social Graph là ảnh hưởng của bạn
* Trên Twitt, nhiều người theo đuôi bạn. Ai quan tâm nội dugn của bạn thì follow bạn.
* Bạn Tweet hoặc retweet để nêu góc nhìn của bạn vào một vấn đề, kèm theo link tham khảo. Đuôi của bạn là những người yêu thích nội dung bạn giới thiệu chính là tầm ảnh hưởng của bạn.
* Nếu đuôi của bạn retweet tầm ảnh hưởng của bạn lại lan xa

3. Social Graph là kênh tiếp nhận thông tin của bạn.
* Trên Twitt, bạn theo đuôi một số người. Ai cung cấp thông tin tốt thì bạn theo đuôi.
* Tweet client chính là màn hình tiếp nhận luồng thông tin mà bạn quan tâm cao.
* Đôi lúc bạn @reply hoặc @notify để trao đổi kỹ hơn với nguồn tin, hoặc người liên quan.

 

 image

 

4. Xây dựng và Quản lý Social Graph
Social Graph ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng trải nghiệm Social media của bạn. Vì vậy, hãy lưu ý
* Cung cấp các thông tin chất lượng, trao đổi, bình luận giúp người khác hiểu bạn hơn từ góc độ thông tin, để có thể quyết định có theo đuôi và giao lưu với bạn hay không.
* Thêm bạn, lọc bỏ, theo đuôi và bỏ theo đuôi là các lựa chọn cốt tử tác động tới Social Graph của bạn, từ đó tác động tới trải nghiệm nội dung của bạn.

Ý nghĩa của từ Viral

Hệ quả của Viral là Lan truyền, nhưng ý nghĩa của nó giàu hơn lan truyền, mà tương đồng với Virus hơn
* Lan truyền như virus là hệ quả, nhưng không phải là tất cả
* Virus sức sống cao thì mức lan càng mạnh. Nội dung càng hay sức lan càng cao.
* Virus muốn lan xa thì phải nguyên bản, lan đi đâu vẫn là nó. Ý tưởng cũng vậy, phải đủ mạnh để không bị biến thái khi lan xa.
* Virus khi đạt tới một mật độ tới hạn thì bắt đầu lan mạnh. Nội dung cũng vậy, khi có dủ số người quan tâm thì lan xa
* Virus muốn bùng phát phải đặt vào môi trường phù hợp. Nội dung hay khi rơi đúng thời cơ, ngữ cảnh và cộng đồng sẽ tự phát huy tác dụng.
* Virus có thể lan nhanh, lan rộng và lan lâu: Vàng Anh lan nhanh mà không lâu, nhạc Chopin chậm mà vĩnh viễn, Mỹ Linh khó lan rộng hơn lãnh thổ Việt nam

Lý do FaceBook, Twitter, LinkHay sẽ khiến blogging mạnh lên

----
Phân phối nội dung:
* Trước đây blogger dựa vào Google, Y360, YM và email để truyền thông tin. Các công cụ này đều không relevant và hữu ích cho blog. Vì bạn mình ít khi đọc bài viết chuyên môn của mình.
* FB, Twitt, LinkHay là công cụ phân phối mới cho blog với tính relevant cao. Vì quá trình hình thành social graph luôn có tính kết nối cao với mối quan tâm chung. Ngoài ra các MXH này tạo điều kiện cho mọi người phát triẻn social graph xung quanh các chủ đề họ quan tâm. Tính viral cao của nhóm này cũng hỗ trợ cho bài blog reach được audience của họ
----
Động lực để viết:
* Ý tưởng bắt nguồn từ ý tưởng, sáng tạo dựa trên sáng tạo. Và quá trình trao đổi short idea trong các blast, comment tại FB, Twitt, LinkHay - lại khiến người ta phát sinh ý tưởng để viết. Notes này là một ví dụ.
* Reactions của độc giả và fellow bloggers: thông qua comment, facebook comment, twitt reply tạo cảm hứng và sức ép để blogger viết
* Audience rộng hơn, cũng tạo các cơ hội trong cuộc sống cho bloggers
----
Xây dựng độc giả (audience) và duy trì kết nối với họ:
* Dễ dàng tìm kiếm, kết bạn, theo đuôi
* Comment và blast với quick idea giúp độc giả theo dõi tốt hơn và hiểu blogger hơn
* Comment, like, retwitt, share của độc giả giúp blogger viral tốt hơn trong các mối quan hệ của độc giả. Tăng hiệu quả discovery
----
Suy nghĩ của tôi:
* Blogging kiểu chơi chơi sẽ suy giảm
* Blogging với nội dung chất lượng hoặc chuyên nghiệp sẽ nhanh chóng bùng nổ.
* Viva social media.
* Bài này định viết từ lâu, mà ko có twitt kích của @web2vietnam chắc là ko viết

June 26

Sự kiện Jackson và Social Media

Nếu xảy ra 5 năm trước, vào thời của traditional media, sự kiện MJ sẽ xuất hiện rầm rộ trên sóng TV vào breaking news, lên trang chủ báo điện tử, nằm trên trang nhất báo giấy, được phân tích/bình luận bởi các chuyên gia hay các bình luận viên. Cộng đồng cũng chia sẻ tiếng nói của họ, thông qua các trao đổi bàn tán trong bữa cơm gia đình, hay cuộc gặp mặt bạn bè, hoặc tại nơi làm việc.

Ngày nay, phần traditional media có lẽ không thay đổi nhiều, nhưng web 2.0 và social media đã khiến cho nửa cộng đồng thay đổi đáng kể. Một vài ghi nhận sau

  • Bài viết trên blog, video trên Youtube/clipvn, mp3 trên các website nhanh chóng được tập hợp và chia sẻ. Thiếu những nền tảng digital publishing này, không thể có được điểm khởi tạo cho các cuộc thảo luận.
  • Các diễn đàn đều xuất hiện chủ đề thảo luận, thể hiện sự quan tâm và đóng góp của của quần chùng
  • Cộng đồng phát biểu cảm xúc và ý kiến của họ trên Twitter, khiến lượng tweet tăng gấp đôi vào thời điểm cao nhất.
  • FaceBook feed tràn ngập các post chia sẻ cảm xúc hay các video, mp3 nổi tiếng của MJ, với lượng comments tăng đáng kể. Tạo điều kiện cho người dùng tiếp cận với sự đa dạng chưa từng thấy về thông tin, các bài hát và buổi trình diễn của Jackson, ảnh/video ghi nhận các thời khắc quan trọng, các bài viết, bình luận tư liệu.
  • Trang chủ LinkHay có tới 50% số link nói về sự kiện JM, với sự đa dạng và nhiều góc độ: thông tin về cái chết của ông, chia sẻ cảm xúc, các video/bài hát hay, sự nghiệp, và thậm chỉ cả các thông tin bình luận về ảnh hưởng tới công nghệ như bài viết này.

Social media đã thay đổi media tận gốc rễ, công chúng có được một cái nhìn đa dạng hơn, sâu sắc hơn vào sự kiện, và được tạo điều kiện để phát biểu ý kiến, chia sẻ cảm xúc của mình.

Ngay cả khi Jackson mất, ảnh hưởng của ông được đánh dấu gấp đôi bởi cả traditional lẫn social media

Viva social media, and good bye Jackson. MJ! This your song that I love most, I’m listening it and writing about you. Wish you rest in peace.

 

 
June 01

LinkHay.com a content stream

 

1. Ý tưởng sản phẩm

Khi Y360 đóng cửa, bà con phân tán sang nhiều công cụ blog khác nhau. Việc di chuyển blog không quá khó khăn vì đã có nhiều nền tảng và công cụ khác nhau.

Nhưng khi rời khỏi Y360 vấn đề lớn nhất là làm sao để

* Bạn bè biết được mình có bài viết mới
* Mình biết được bạn bè, hoặc các blog mình theo dõi có bài viết mới

Đặc biệt là khi bạn mình có nhiều blog hoặc micro blog nằm rải rác khắp nơi, rất khó update, theo dõi.

LinkHay được thiết kế để đảm bảo rằng dù blog bạn ở bất kỳ đâu , bạn bè vẫn nhận được cập nhật như bình thường.

2. Cơ chế hoạt động của LinkHay

* Theo đuôi: khi bạn đăng ký và bấm link sau http://linkhay.com/register?follow=TanNg , bạn sẽ "Theo đuôi" (follow TanNg). Theo đuôi có nghĩa là mọi hoạt động viết blog của TanNg sẽ được cập nhật cho bạn.

* Bạn có thể Theo đuôi TanNg, Saint, Cáo, 5xu, Tyn, ThanhCong, v.v... hay bao nhiêu người tùy ý để cập nhật thông tin từ họ

* Bạn bè 360 http://linkhay.com/feed: là một tab chứa luồng thông tin cập nhật (update stream) tổng hợp từ những người mình đã theo đuôi ở trên.

* TanNg, Saint, Cáo, 5xu, Tyn, ThanhCong khai báo blog hoặc MicroBlog của mình, mỗi khi có bài mới hệ thống sẽ tự động nhặt về và đưa vào Tab Bạn bè 360. Bạn vào tab này là sẽ thấy cả luồng thông tin cần thiết.

* Khi TanNg chuyển blog từ website này sang website khác thì chỉ việc khai báo lại, toàn bộ người theo đuôi TanNg không cần biết TanNg có blog mới ở đâu, mà vẫn nhận được luồng thông báo về bài viết mới.

Nói cách khác LinkHay không phải là hệ thống viết blog, nó là công cụ giúp cật nhật xem bạn bè viết gì, ở đâu.

3. Các hỗ trợ bổ sung

* LinkHay hỗ trợ các nền tảng blogging và micro blogging chính sau: Wordpress, Opera, Y360, Blogger, Tumblr, Twitter và các blog khác thông qua RSS

* LinkHay sẽ tiếp tục bổ sung các nền tảng khác theo yêu cầu

* LinkHay giúp bạn import "quan hệ bạn bè" vào hệ thống, bằng cách đơn giản là khai URL Y360, hoặc Twitter name. Hệ thống sẽ đảm nhận phần còn lại là kết nối lại mọi người với nhau.

* Lưu ý: theo đuôi là quan hệ 1 chiều, TanNg theo đuôi 5xu, không có nghĩa là 5xu tự động theo đuôi TanNg.

* Để giúp bạn bè "theo đuôi" dễ dàng, hay lấy link tương tự như sau http://linkhay.com/register?follow=TanNg và gửi cho bạn bè (thay nick TanNg bằng nick của bạn). Khi họ bấm và đăng ký account thì bạn bè tự động theo đuôi bạn, một thông báo bằng email cũng được gửi cho bạn, nếu bạn muốn có thể theo đuôi ngược trở lại người mình quan tâm

March 28

Viết nhanh: Chrome là đối thủ của IE hay FF?

Không hiểu sao nhiều người hay phân tích Chrome vs FF. Đứng từ góc độ chia sẻ nhu cầu và giá trị thì

1. Mainstream users, Gọn nhẹ: Chrome, IE8 > IE7, IE6 --> Chrome và IE8 lấy thị phần của IE7, IE6

2. Mainstream users, Upgrate tiện lợi: IE8 lấy thị phần từ IE7, IE6

3. Mainstream users, Marketing power: Chrome phân phối và thương hiệu qua Google. Chrome lấy thị phần của MS, không tác động được vào FF

4. Advanced users, Chức năng, tiện lợi: FF > Chrome, IE. Chưa rõ FF đạt peak  hay không trong mảng này, nhưng xu hướng user ngày càng advanced. FF lấy thị phần của IE, Chrome không tranh được.

5. Advanced users, Web2.0 apps, JS: Chrome, FF > IE6, IE7 đáng kể. Chrome, FF lấy thị phần của IE. Nhưng tốc độ lấy phụ thuộc vào ý tốc độ tăng trưởng của Advanced user. Web 2.0 giảm hot --> không chừng trend còn bị đảo ngược.

6. Anti Microsoft user/Apple và Linux Fanboi: Chrome = FF. Chrome lấy thị phần của FF

Tổng hợp lại, và ước tính trọng số thị phần của IE thì có vẻ Chrome đánh vào base của IE nhiều hơn là làm được gì FireFox, thậm chí có thể Chrome mò cho FF xơi, vì user mainstream move vào Chrome trước, sau đấy chuyển sang FF theo mức độ advance.

Còn nhu cầu gì lớn chưa tính đến không nhỉ?

Viết nhanh: Hậu duệ của Y360!

Bàn tán trên net về số phận Y360 cũng nhiều. Đọc mạch thảo luận trong LinkHay, câu em đi để lại con đường của Tuấn Linh tự dưng khiến nảy ra hứng viết, nhưng lại viết kiểu nháp, ngắn gọn thôi.

  1. Y360! đang chết – không thể đảo ngược. Dù Yahoo đóng cửa nó hay không thì user cũng dần dần rời bỏ nó sang các dịch vụ khác.
  2. Vấn đề là Y360 ra đi sẽ để lại những gì, users của nó chuyển sang các dịch vụ nào?
  3. Đánh giá vấn đề từ các góc độ nhu cầu của người dùng mà Y360 đang đáp ứng
    • Theo đối tượng
      • Hot blogger: viết bài hot, nhanh chóng được bạn đọc biết, lan truyền,  và comment
      • Proffesional blogger: viết bài, kết nối quy mô nhỏ
      • Giới trẻ: trang trí home page, tâm sự thở than, kết nối bạn bè
      • Casual writer: tâm sự đơn giản, kết nối bạn bè
      • All: blasting, update status
    • Nhu cầu kết nối (relationship centric)
      • Update trang home 360
      • Kết nối thông qua YM và YM notify
      • Blast update
      • Phát triển quan hệ: yếu, không đáng kể
      • Comment
    • Blogging (content)
      • Hot, pro và casual
      • Copy and share
      • Tracking bài viết của bạn (thay cho RSS)
    • Ego centrics
      • Trang trí home page, tạo style
      • Post bài đáp ứng nhu cầu Ego
  4. Tại sao Yahoo rời bỏ Y360?
    • Yahoo là công ty toàn cầu, Y360 không cạnh tranh được ở toàn cầu, duy trì Y360 ở Việt nam là vô nghĩa.
    • Yahoo cố đẩy lùi tiến trình này lại, vợt được bao nhiêu thì vợt –>  đẩy user sang Yahoo plus và Yahoo Profiles.
    • Y360! là một sản phẩm tệ không cạnh tranh nổi với các sản phẩm khác mang tính chuyên biệt hóa.
    • Người dùng Việt nam bị bó trong môi trường Internet của Yahoo nên việc đóng gói all-in-one các chức năng tạo ra hiệu ứng user lock-in cho Yahoo.
    • Ở quốc tế
      • Blogging có WP, blogger hơn hẳn Yahoo
      • Ego/Style centric có MySpace
      • Kết nối có FaceBook
      • Content viral có Twitter, FaceBook
      • Blogging kết hợp home page có LiveSpaces
      • Quick Share kết hợp style có Tumbl
  5. Tại sao người dùng chưa bỏ Y360
    • Không phải vì chưa có tools hay platform mới
    • Mà vì ngại migrate, và chuyển nội dung cũ sang chỗ mới
    • Vì sợ mất kết nối cũ và khả năng lan truyền nội dung.
  6. Y360 tan vỡ, và users của họ sẽ phân tán sang nhiều network khác nhau, như dưới đây
  7. Blogging chuyên nghiệp/Hot bloggers
    • Wordpress và Wordpress tự host: chủ động, linh hoạt, tùy biến và là best blogging platform
    • Blogger của Google có một chút cơ hội, nhưng theo tôi là không bao nhiêu. Một số local blogging service provider có thể sẽ tiếp nhận được một số như sky.vn và một số khác. Tuy vậy do ko tìm hiểu kỹ nên tôi cũng không rõ tiềm năng của nó tới đâu.
    • Nhóm này lo ngại mất độc giả, nhưng họ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng lượng độc giả của họ không phụ thuộc vào Y360 mà phụ thuộc vào nội dung của họ.
    • Các công cụ social media mới: facebook, twitter, linkhay giúp họ thoát khỏi phụ thuộc trên
    • Cách tốt là thoát ngay, thoát nhanh, và làm quen thu thập kinh nghiệm với môi trường mới, phát triển quan hệ trong môi trường media mới.
  8. Home page/trang trí
    • Nhóm user này có 2 lựa chọn Tumblr đang được chú ý, và các social network của Việt nam mà copy lại phong cách Y360.
    • Nhóm coi trọng trang chủ phong cách riêng có thể đổ về Yume, Cyworld, Yobanbe, Ipro
    • Nhóm thích trang trí, kèm theo chia sẻ có thể đổ về Tumblr
    • Còn nhiều network nữa rất mạnh ở quốc tế, nhưng chưa đủ để notice.
  9. Quan hệ, update bạn bè, giao lưu, viết nhanh, thở than, tâm sự 
    • FaceBook sẽ tóm toàn bộ segment này một cách nhanh chóng vì:
    • nó có đủ các chức năng quan trọng: quick blog (notes), blasting, tracking update, chia sẻ ảnh
    • nó được PR mạnh mẽ như một sự thay thế Y360
    • nó đã đạt được critical mass và viral rất nhanh, không ai có thể theo kịp nữa.
    • nhóm user này không có nhu cầu quảng bá nội dung của họ nên không bị phụ thuộc vào quan hệ cũ Y360
  10. Social media, viral content, chia sẻ what is interesting, tracking update
    • YM hiện vẫn là king qua việc gửi link, nhưng trở nên lạc hậu
    • Twitter là người nắm bắt và đẩy khái niệm này lên tầm cao mới; phát triển rất nhanh và tạo ra giá trị rất riêng biệt.
    • LinkHay được design cho update, share và tracking conservation. Nhưng cảm nhận của người dùng về giá trị sẽ rất khó khăn.
    • Ngoài ra không có ai đang cạnh tranh lĩnh vực này.
    • Nhu cầu này ko được phục vụ tốt nhất ở FaceBook, nhưng nó có thể là “just enough” để các đối thủ khác không thể đạt được critical mass.
    • Như vậy, nhu cầu loại này không phải “nhặt user của Y360” mà sẽ là xuất phát từ nhóm users này.
    • FaceBook, Twitter, LinkHay nhắm vào đây. Facebook có lợi thế tốc độ, nhưng 2 dịch vụ kia định vị khác về nhu cầu. Vì vậy tới thời điểm này, kết quả của họ phụ thuộc nhiều vào chính định vị và năng lực phát triển sản phẩm của họ hơn là việc FB đi tới đâu.
    • Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới các twitter clone ở Việt nam, nhưng ko nhớ tên dịch vụ nào nên không lưu ra ở đây.

Notes:

1. Bài này chỉ nói về hậu duệ của Y360, chứ ko phải nói về Social network và social media nói chung.

2. Sẽ còn sót nhiều dịch vụ chưa được nhắc tới, ở trên là những cái tôi biết và nghĩ rằng có thể có cơ hội. Bạn có thể giới thiệu thêm dịch vụ bạn biết.

10 lực lượng cản trở Google’s domination (phần 2)

A. Sự thống trị của Google

B. Và các lực lượng cản trở

1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

a. Last click shouldn’t get all the credit

-- tiếp theo --

b. Google Anlytics nhân rộng nhầm tưởng

Capture Chủ sở hữu và quản lý website, cũng như các nhà quảng cáo đều quan tâm tới việc độc giả đến với website họ từ đâu? Đến thẳng website, đến từ các link dẫn chiếu, các chiến dịch quảng cáo banner/email, hay từ search engine. Khi nhìn vào bảng tổng kết bên, đa số trong số họ đều nhanh chóng kết luận search mang lại cho tôi 22%, trực tiếp 54%, v.v… mà không đi sâu thêm vào chi tiết.

Web analytics is the measurement, collection, analysis and reporting of internet data for purposes of understanding and optimizing web usage.[1] 

Thị trường phân tích web (web analytics), đã từng phát triển rất mạnh nhiều năm trước để phục vụ nhu cầu đo lường phân tích hành vi của người sử dụng trên trang web: đến từ nguồn nào, sử dụng trang nào nhiều, di chuyển theo luồng nào trên trang web. Thị trường này từng có 5-6 sản phẩm thương mại cạnh tranh, và một vài sản phẩm mã nguồn mở. Các sản phẩm này có mô hình kinh doanh đa dạng khác nhau như: bán phần mềm, bán dịch vụ đo lường qua web, bán phần mềm nâng cao, bán dịch vụ tư vấn.

Tuy vậy, sau đó Google gia nhập cuộc chơi. Họ mua lại Urchin, một trong các sản phẩm web anlytics hàng đầu trên thị trường, dựa trên đó để phát triển Google Analytics (viết tắt là GA), đồng thời cung cấp miễn phí dịch vụ phân tích web cho các nhà làm web mà chỉ cần đăng ký. Google Analytics nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường bởi vì nó là một sản phẩm có giá trị rất cao với chất lượng thật sự về nghiệp vụ, lại hoàn toàn miễn phí, tốc độ và ổn định được đảm bảo bởi datacenter hàng đầu của Google, và trở thành chuẩn mực defacto trong giới làm web.

GA là một công cụ tuyệt vời và được nhiều người tin dùng, một số thậm chí còn sử dụng nó như một công cụ so sánh website. Tuy vậy, trong 1000 người có lẽ không quá 5 người hiểu thấu đáo cách mà GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới website.

GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới site thành 4 nhóm chính

  1. Trực tiếp: được nhiểu là các độc giả bấm bookmark, gõ link trực tiếp trên thanh công cụ, click link gửi cho nhau.
  2. Tham chiếu: độc giả bấm các link trên trang web, trong email, v.v..
  3. Others: bao gồm các marketing campaign được đánh dấu, tức là khi độc giả bấm các link được đánh dấu bằng kỹ thuật link tagging.
  4. Organic search: độc giả đến từ search engine

Mục (4) organic search có một vấn đề mà nhiều người đã nhìn thấy. Đó là, ngày càng nhiều người sử dụng Google thay cho book mark, nói các khác khi tôi muốn tới Sàn Nhạc, thay vì gõ SanNhac.com, tôi sẽ gõ “Sàn nhạc” vào box search, hoặc thanh địa chỉ, browser sẽ tự động đưa thẳng về SanNhac.com, hoặc liệt kê danh sách tìm kiếm để bạn click. Ai là người khiến cho bạn muốn tới Sàn nhạc? đó là kết quả của quá trình marketing nhận diện thương hiệu, truyền miệng xảy ra trước đấy. Ai là người được ghi nhận có công tạo ra lượt đến vào bảng tổng kết của Google Analytics? đó là Google. Nói cách khác, GA ghi nhận công lao của Google nhiều hơn thực tế nó có.

Nhưng còn một vấn đề lớn hơn mà rất ít người biết. Đó là cách GA overwrite số liệu lên nhau. Độc giả A tới Sàn nhạc 3 lần theo 3 nguồn khác nhau, vậy nguồn nào sẽ được ghi nhận? Chuyên gia tư vấn GA Justin Cutroni tổng hợp lại như sau trong blog Analytics Talk

  1. Direct traffic luôn bị overwritten bởi 3 nguồn còn lại
  2. Trong 3 nguồn còn lại, nguồn cuối cùng overwite nguồn trước.
  3. Direct traffic không overwrite các nguồn khác

Giải thích bằng ví dụ như sau:

  1. A được người bạn gửi link SanNhac.com qua YM, click vào Sàn nhạc – hệ thống ghi nhận direct; lần thứ 2, A bấm một banner quảng cáo Sàn nhạc – hệ thống overwrite thành A đến từ quảng cáo; lần thứ 3 A nhớ tới Sàn nhạc và gõ trực tiếp URL, hệ thống vẫn ghi nhận A đến từ quảng cáo bởi vì direct. Tóm gọn lại Direct – Banner – Direct được ghi nhận là Banner
  2. Tương tự vậy Direct – Direct – Direct – Google được ghi nhận là Google
  3. Banner – Banner – Banner – Direct – Google được ghi nhận là Google
  4. Google – Google – Google – Direct được ghi nhận là Google
  5. Google – Google – Banner được ghi nhận là banner
  6. Google – Google – Tham chiếu được ghi nhận là tham chiếu

Tuy vậy, nếu bạn chú ý một điểm quan trọng sau: “không có một banner nào chạy mãi mãi”, điều có có nghĩa là sớm hay muộn GA sẽ ghi nhận độc giả A của website bằng một trong 3 nguồn cuối cùng. Nếu bạn nghĩ thêm thật kỹ sẽ nhận thấy rằng “toàn bộ độc giả tích lũy được GA ghi nhận hết cho Google” , bởi vì tình huống duy nhất ghi nhận cho banner/tham chiếu là xảy ra với campaign cuối cùng.

Như vậy thống kê kiểu GA sẽ khiến cho công lao của các campaign quảng cáo bằng thương hiệu, viral, banner khác chỉ được ghi nhận một lần, giá trị tích lũy cần được ghi nhận thành nội lực của site thì lại ghi nhận thành nguồn organic search (hay chính là Google).

Cũng cần nói thêm là khi GA chiếm thị phần tuyệt đối như hiện nay, số lượng người sử dụng GA như một cơ sở đánh giá ngày càng nhiều thì nhầm tưởng này lại càng được nhân rộng, tới mức trở thành một định kiến ngầm về tầm quan trọng của Google và SEO trong việc tạo ra lượt đến site của bạn.

Tôi không buộc tội GA trong việc cố tình làm người dùng hiểu sai, cũng rất đúng khi nói “trách nhiệm của người sử dụng là phải biết cách sử dụng số liệu thống kế một cách đúng đắn”. Nhưng thực tế ở đây là, rất nhiều người trong chúng ta đang hiểu nhầm, và điều quan trọng không phải đổ lỗi cho ai, mà điều quan trọng là làm sao để nhầm tưởng này không còn, hoặc không gây tác hại.

Cách tốt để đánh giá vai trò nguồn của Google là chỉ quan tâm tới lượng độc giả hoặc khách hàng mà Google trực tiếp tạo ra cho bạn. Quan sát thực tế trên một số website cho thấy, chỉ có dưới 30% độc giả tới site từ nguồn SEO là new visitors, 70% còn lại đã từng đến site một vài lần nào đó. Như vậy, với ví dụ trong hình ở trên, vai trò của Google trong việc tạo traffic cho bạn giới hạn lại không quá 6.5%. Mức 6.5% này, vẫn là một con số rất lớn và cho thấy tầm quan trọng của Search engine – chỉ có điều nó không còn quan trọng như tôi từng hiểu nhầm.

-- to be continued --

10 lực lượng cản trở Google’s domination

A. Sự thống trị của Google

Mọi người đều nhất trí rằng Google là tốt nhất và mạnh nhất. Một số lượng không nhỏ cho rằng Google sắp hoặc đã đạt được vị trí monopoly trên Internet. Thậm chí, nhiều nhà phân tích, Guru và các bloggers bắt đầu nói về sự thống trị (domination) của Google trên Internet.

Google có mọi thứ (xếp không theo thứ tự quan trọng):

  • Độ phủ sản phẩm quy mô toàn cầu, đặc biệt là search, giúp Google có được thương hiệu mạnh, thị trường quảng cáo và network effect trong việc tăng trưởng và giữ chân số lượng ngưòi sử dụng sản phẩm.
  • Các sản phẩm đại chúng chất lượng hàng đầu: SEARCH, mail, bản đồ, YouTube, … với tốc độ kinh ngạc về chiếm thị phần từ đối thủ.
  • Các sản phẩm đầy tiềm năng: Google reader, iGoogle, Google Finance, Chrome, Googel Apps, Android
  • Một đội ngũ sáng tạo, năng động, một phương pháp phát triển sản phẩm độc đáo giúp Google duy trì đổi mới và vị thế dẫn đầu.
  • Hệ thống monetization với quy mô và hiệu quả vượt trội với AdWords, AdSense và DoubleClick.
  • Datacenter kết nối toàn cầu với tốc độ xử lý, băng thông, lưu trữ và edge-caching tạo ra một hạ tầng công nghệ mà các đối thủ sẽ phải tốn nhiều tiền của, thời gian để san bằng khoảng cách.
  • Công nghệ Cloud Computing bậc nhất, với lợi thế đáng kể về chi phí khi so sánh với đối thủ, đồng thời khi kết hợp với datacenter đã đảm bảo cho người sử dụng các trải nghiệm tốt nhất về chất lượng: tốc độ, ổn định và tính sẵn sàng.

Tuy vậy, vẫn có thể chỉ ra được nhiều lực lượng, với tiềm năng cản trở (cùng nhau, hoặc một mình) quá trình độc chiếm thế giới của Google.

B. Và các lực lượng cản trở

1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

Một số người lập luận rằng khủng hoảng sẽ khiến cho tất cả cùng khó khăn. Doanh thu Google có thể bị giảm, nhưng đối thủ thiệt hại còn nặng hơn và trong thời kỳ khủng hoảng Google ở vị thế không thể hơn cho việc chiếm thị phần từ tay đối thủ đang khó khăn, tuyển dụng các nhân viên tốt nhất, mua lại các sản phẩm tốt với giá rẻ nhất. Một số report chính thống còn cho rằng Google sẽ là người chiến thắng sau khủng hoảng, vị trí chiến lược của Google sẽ vững chắc hơn nữa sau thời kỳ khủng hoảng.

Các kết luận trên rất hợp lý, nếu bỏ qua Quy luật của Chân giá trị. Khủng hoảng và khó khăn chính là lúc mà các giá trị ảo bị nhận diện và phá hủy, các giá trị thực có đất dụng võ và phát huy.

Với vị thế độc quyền của mình và hyped consensus, những gì Google nhận được cao hơn giá trị đáng có của nó. Tiếp theo đây, chúng ta sẽ đi vào nhận diện các giá trị ảo của Google.

a. Last click shouldn’t get all the credit

Lần đầu tiên vấp phải cụm từ “Last click shouldn’t get all the credit” (xem thêm ở đây), tôi đã thoáng nghĩ “thêm một hành động chê bai đối thủ của Micrsoft”, tuy vậy nó có giá trị tới mức buộc tôi phải nghĩ, nhớ và đọng lại. Tiếp đó, một vài thảo luận của các chuyên gia và các người quảng cáo thực tế đã khiến ý thức của tôi về vấn đề này ngày càng trở nên rõ rệt hơn.

Tại một thảo luận của Search Engine Strategies ở San Jose, Mikel Chertudi – giám đốc marketing trực tuyến cao cấp của Omniture bày tỏ quan điểm

“Search [often] gets credit for everything,”

Chertudi explained that companies typically credit the last source of a sale, which is often paid search. However, a user may see a banner ad, receive an e-mail and then click on a paid search ad before making a purchase, and he stressed that all three of these contributing channels should be measured.

Chertudi added that it's important not to ignore the other channels in the marketing mix, whether they are offline or online. He also cautioned that, without measuring correctly, marketers are in danger of underspending or overspending in different channels

Nói cách khác, hiệu quả quảng cáo do các kênh và công cụ khác tạo ra, nhưng Google được người ta nhầm tưởng là đã tạo ra toàn bộ giá trị.

Bạn có tìm hiểu sâu hơn bằng cách đọc thêm một số ý kiến tổng hợp trên LiveSide.net ở đây và một bài mới trên New Media Strategy NMS.net ở đây, và bài viết  Why the Click Is the Wrong Metric for Online Ads trên Advertizing Age.

Quan điểm này cũng được khẳng định qua kinh nghiệm cá nhân. Chúng tôi đã từng có một website bị ban khỏi Google index, lý do rất đơn giản Lập trình viên đọc ở đâu đó trên mạng và tạo ra một loạt keyword ẩn trong bài viết – một thủ thuật SEO khi Google phát hiện ra sẽ loại ngay website khỏi index. Cũng phải lưu ý luôn là thời điểm này VCC chưa hề quan tâm tới làm SEO vì quan niệm tập trung toàn lực vào sản phẩm, bỏ qua marketing cho tới khi tin tưởng vào giá trị của sản phẩm. Traffic lập tức sụt giảm 10k visits/ngày, nhưng điều bất ngờ nhất là chỉ sau 2 tuần, traffic đã tăng bù lại toàn bộ lưu lượng bị mất từ Google. Toàn bộ số lưu lượng tăng lên là do độc giả truy cập thẳng vào website. Sau 3 tuần thậm chí lượt truy cập trực tiếp tăng lên thêm 5k visits/ngày nữa.

Tại sao toàn bộ lưu lượng bị mất được bù lại? Tại sao thậm chí truy cập còn được nhiều hơn trước? Giải thích hợp lý nhất có được như sau: độc giả đến với website này một cách chủ động, nhưng vì người ta sử dụng Google như một công cụ để truy cập nên traffic thật sự là của website lại được ghi công cho Google. Khi website bị loại khỏi Google index, độc giả vẫn sẽ phải tìm cách để đến được nó, và họ tìm ra tên miền, hỏi bạn bè, lưu bookmark để vào trực tiếp. Một số độc giả sẽ set home page, đặt bookmark, chia sẻ link với bạn bè (họ không thể chia sẻ Google link) – và toàn bộ hiệu ứng này khiến cho lưu lượng tăng lên so với khi họ sử dụng Google để navigate.

Hiện tượng này còn quan sát thấy trên một loạt các website khác, cũng như các phương tiện marketing khác. Một phát hiện thú vị, nhưng giá trị của nó không dừng lại ở thú vị, nó đã khiến chúng tôi thay đổi nhiều quan điểm về marketing: quan tâm hơn tới branding, tên miền, nhận diện; giảm bớt sự quan tâm tới last click (không chỉ Google); khẳng định thêm niềm tin vào giá trị lõi của sản phẩm; quan tâm hơn tới customer retention so với customer aquisition; v.v…

March 17

Suy nghĩ nhanh về FB design mới

    1. Thiết kế các chi tiết thông tin, công nghệ vẫn hoàn hảo
    2. Page/Group vẫn không có mấy giá trị. Cần các killer apps cho chúng.
    3. Dịch chuyển rõ ràng sang content centric, nhưng không mất hẳn relationship (cụ thể nói sau). Photo trong FB đã từng là công cụ ghi nhận friendship moment, bây giờ photo là để chia sẻ ảnh đẹp.
    4. FB tăng trưởng nhanh từ lần dịch chuyển sang content thứ nhất (cách đây vài tháng), và đây có thể là lý do cho độ “máu” khi dịch chuyển tiếp tục về content.
    5. “Học” một số thiết kế của FriendFeed: bộ lọc bên trái, thảo luận quanh feed items, import content của mình từ các nguồn khác.
    6. “Học” một phần từ Twitter: blast và micro conservation. Conservation dễ hơn twitter, nhưng hẹp hơn, ít hơn và đóng hơn.
    7. Là thay đổi lớn về lõi và bản chất và hướng đi, tuy vậy lại không phải là một cú ngoặt quá sốc với users.
    8. Đúng hay sai thì thời gian trả lời, nhưng lần thay đổi này của FB cảm giác phân vân kéo dài, chứ không ủng hộ nhanh chóng như lần trước.
    9. 3 types of relationships: (r1) bạn bè, gia đình hay các mối quan hệ thiên về tình cảm, xã hội đi với ta tới cuối đời, (r2) công việc, chuyên môn hay những mối quan hệ liên quan tới nghề nghiệp, cuộc sống của bạn, (r3) hobby, interest, affinity – Sàn nhạc là một ví dụ.
    10. Facebook đã từng thiên về (r1), (r2) và có xu hướng chuyển dần sang (r3), vẫn social graph cũ, nhưng cách họ tương tác với nhau thay đổi.
    11. New nature of FaceBook:
      • Quan hệ xung quanh các chủ để nội dung.
      • Tuy vậy nó là long tail content, not top hits.
      • Khoe content của tôi (spam) và more vanity. FB thậm chí consider url dạng facebook.com/tanng
      • Chia sẻ mối quan tâm (spam)
      • Và micro conservation (not deep)
      • Very very long tails và dynamics – big prize here?
    12. Facebook có lệch core? Very risky move. Bước đi vội vàng? Hay tới lúc lớp user mới đòi hỏi core mới, experience mới phù hợp hơn?
    13. Thách thức
      • Bản chất publicity, viral và realtime một cách tương đối của Twitter giúp nó cạnh tranh tốt hơn trong quan hệ loại (r3). Tuy vậy FB có lợi thế về social graph, basic apps rất tốt và dễ sử dụng hơn cho mass. Ngoài ra FB nhắm tới phần đuôi thấp hơn phần của Twitters.
      • Quan hệ kiểu (r3) thường hot, bốc nhanh, nhưng cũng xẹp nhanh. How to keep it có giá trị lâu dài như quan hệ tình cảm.
      • Giải quyết mâu thuẫn privacy và publicity
      • Lọc bỏ junk, spam content trên feed. Less overload.
    14. Câu hỏi mở: có dấu hiệu cho thấy FB đang ngắm vào bản chất publicity và quan hệ “theo đuôi” kiểu Twitter. Chờ và xem họ sẽ làm thế nào.
    15. Và còn một loạt câu hỏi mở nữa, nhưng too complicated to think chứ đừng nói tới viết chúng ra.
    16. Thở dài: quá khó để viết hết ra một cách rõ ràng, đầy đủ và hấp dẫn.
February 22

Vizio vs Sony và Quy luật Internet

Eric Krangel , tác giả bài viết Sony Bleeding HDTV Market Share (SNE) trên Silicon Alley Insider đã tỏ thái độ sửng sốt, không tin khi đặt sapo cho bài của mình là Sony loses its spot as the #2 seller of HDTVs to Vizio. Vizio?!?. Tại sao lại là Vizio? Vizio là ai mà có thể cướp được vị trí thứ 2 của Sony?

Thông tin về thị phần được Reuter thông báo tại đây, Eric Krangel lấy thông tin và viết bài bình luận chỉ ra nguyên nhân chính của việc này là khủng hoảng

Now, the double-whammy: First, consumers are scaling back discretionary purchases of gadgets. Secondly, when they are buying gadgets, they're snubbing Sony for cheaper models that offer largely the same experience.

Tất nhiên Eric đã đúng, nhưng “khủng hoảng” không phải câu trả lời duy nhất cho sự kiện này. Lập luận “khủng hoảng” không đủ mạnh để trả lời câu hỏi “Tại sao lại là Vizio?” một hãng không có lợi thế cạnh tranh thông thường về thương hiệu, chi phí, phân phối – chứ không phải các hãng khác. Tại sao Vizio có thể tăng trưởng tới mức bám sát Sony và không cách quá xa SamSung ở thời điểm trước khủng hoảng? Họ đã làm thế nào để đạt được vị trí này?

Câu trả lời có thể đến từ “Quy luật của Internet”. Với các sản phẩm, dịch vụ Internet 4Ps (product, price, promotion và distribution channel – sản phẩm, giá, quảng bá và phân phối) trở thành gần như 1P (sản phẩm). Sản phẩm đóng vai trò tối quan trọng khi mà giá bằng zero, vai trò của kênh phân phối và chương trình quảng bá bị mất đi khi mà một sản phẩm tốt sẽ lan truyền trên Internet với tốc độ và sức mạnh không gì cản nổi ở mức chi phí gần như zero.

Vizio là mặt hàng TIVI LCD cạnh tranh trên thị trường offline truyền thống, nơi mọi thứ không không tuân theo quy luật Internet. Tuy vậy, hãy xem Internet đã khiến mọi sự thay đổi như thế nào.

Vizio không tổ chức các hoạt động quảng bá thương hiệu, vì thế giá thành Tivi của họ giảm được phần chi phí thương hiệu. Giai đoạn đầu Vizio thậm chí chỉ giao hàng tại kho, khách hàng tới kho trả tiền, nhận hàng và tự chờ hàng về nhà. Với cách làm này, chi phí phân phối của Vizio giảm thiểu. Các chi phí ẩn của khách hàng vẫn tồn tại, nhưng không được cảm nhận vào giá.

Trên phương diện sản phẩm, dịch vụ Vizio nỗ lực cung cấp sản phẩm chất lượng tương đương với các dòng sản phẩm của SamSung, Sony đi kèm với dịch vụ bảo hành, bảo trì ở chất lượng tương đương.

Bằng cách này, Vizio đã cung cấp được sản phẩm có chất lượng tương đương với các hãng tên tuổi với giá bán rẻ hơn. Trong một thế giới truyền thống, cách kinh doanh này sẽ thất bại, vì quy luật kinh doanh truyền thống bảo rằng: nếu bạn không có thương hiệu khách hàng sẽ khó chấp nhận mua sản phẩm của bạn kể cả với giá rẻ hơn, nếu kênh phân phối của bạn kém khách hàng sẽ chẳng thể mua được sản phẩm của bạn ngay cả khi họ muốn.

Nhưng Internet đã làm thay đổi mọi chuyện. Lớp khách hàng đầu tiên của Vizio mua sản phẩm của họ đã thật sự hài lòng với một sản phẩm tương đương và giá rẻ hơn, và họ kể lại trải nghiệm của mình. Họ kể cho bạn của họ qua điện thoại và trong các câu chuyện phiếm – và lời nói bay theo gió. Các khách hàng này còn lên các diễn đàn, các site review sản phẩm để kể lại trải nghiệm của họ với Tivi của Vizio. Lời khen ngợi của họ, chứng kiến của họ với sản phẩm Vizio được lưu trữ bởi Internet, được tìm thấy nhờ Google, hay các review portal và được lan truyền từ người này qua người khác. Càng nhiều khách hàng quyết định thử sản phẩm của Vizio thì sức marketing lan truyền càng trở nên mạnh, thương hiệu Vizio ngày càng mạnh dần lên trong người tiêu dùng để đạt tới vị trí như ngày nay.

Kinh doanh Tivi của Vizio và sản phẩm/dịch vụ Internet có sự tương đồng nào?

  • Sản phẩm và chất lượng của nó, kết hợp với sự lan truyền trên net bởi khách hàng đã tạo nên thương hiệu của sản phẩm, chứ không phải bộ máy hay ngân sách PR/Marketing.
  • Vai trò của phân phối, marketing và làm thương hiệu giảm tới mức tối thiểu có thể giảm được. Sản phẩm trở thành nhân tố quyết định chính, thậm chí gần như nhân tố duy nhất để tạo nên thắng lợi.
  • Giá bán càng thấp càng tốt để tạo được ra lượng khách hàng tối đa.

Một case study hay phải không? Và lời khuyên cho các bloggers-hay-đi-kiễng-chân hoặc các bloggers-con-mọt-sách là đôi lúc ta cần phải quên tất cả những gì chúng ta đã nghe được người khác nói, đã học được, đã rút được kinh nghiệm để có thể mở rộng mắt và nhìn thấy thế giới mới nơi quy luật Internet sẽ ngự trị.

January 01

Thiết kế giao diện mới Dân trí

Phiên bản mới Dân trí vừa mới lên, đạt được một số vấn đề sau thoáng hơn, tốc độ cao hơn, tiết kiệm 30% máy chủ và giữ được sự quen thuộc. Dưới đây là vài các quan điểm thiết kế của nhiều nhóm liên quan (BBT, Nội dung, Quảng cáo, Thương hiệu) kết hợp lại tạo nên giao diện mới. (Lưu ý đây chỉ là tổng hợp, không phản ánh quan điểm cá nhân)

1. Giao diện

 

* Dòng sự kiện: dùng cho việc theo dõi sự kiện quan trọng kéo dài trong nhiều ngày, cũng có thể sử dụng nó cho breaking news - Mới.

* Menu ngang: quan niệm mỗi chuyên mục là một lĩnh vực, người đọc chuyên sâu chọn lĩnh vực, sau đó mới chú ý tới tiểu chủ đề. Các mục menu là vùng phủ nội dung của báo.

* Vùng trung tâm: cải tiến quan niệm cũ, ngoài sự kiện trọng điểm và các sự kiện đáng chú ý trong ngày. Bổ sung thêm 3 sự kiện nổi bật, nhưng không trọng điểm bằng sự kiện chính. Vùng trung tâm chứa gọn trong màn hình đầu tiên, giúp độc giả xem lướt các sự kiện thời sự trong ngày.

* Vùng list nội dung chuyên mục: cấu trúc 1 cột, đọc tuần tự từ trên xuống dưới, đa phần phần title bài báo nằm trên 1 dòng, quá trình đọc không phải liếc mắt ngang dọc. Dân trí và Vnexpress khác biệt lớn nhất là ở đây, Vnexpress vùng này chia làm 2 cột, xuống dòng tiên tục, quá trình lướt mắt khác với Dân trí.

* Menu chuyên mục giấu bớt các menu con, chỉ khi nào rê chuột vào mới hiện ra (học tập ý tưởng của VnMedia). Hiệu quả là lượng thông tin độc giả phải nhìn giảm đi, nhưng vẫn giúp đọc giả ý thức được và truy cập nhanh vào chuyên mục con.

* Màu sắc, phối màu - giữ nguyên hệ thống màu sắc, kích cỡ, font chữ cũ để giúp độc giả có được sự quen thuộc, không bị phá vỡ thói quen quá mức.

* Kích thước: 780px, đảm bảo 2 cột đầu tiên nằm trọn trên màn hình 800*600 khó tính nhất, 980px - đảm bảo cả 3 cột nằm trọn trong màn hình 1024*768 khó tính nhất. Với màn hình lớn hơn toàn bộ hệ thông được căn giữa.

* Các chuyên mục: giữ quy luật đọc thẳng từ trên xuống, giúp độc giả lướt nhanh qua nội dung. Tùy từng lĩnh vực mà có các box nội dung ở cột thứ 2 rộng rãi.

Điểm dở nhất của giao diện này: toàn bộ nội dung căn sát lề trái, độc giả sẽ cảm giác là bị "lệch", mắt "lác". Tuy vậy kỳ vọng là độc giả sẽ quen dần với việc nhìn sang trái.

2. Quảng cáo

 

* Chuẩn: Đa phần tuân theo chuẩn quốc tế, đặc biệt là chiều ngang, về chiều dài là bội số của chuẩn quốc tế. Khách hàng có thể sử dụng các banner hoặc mẫu thiết kế quốc tế để triển khai trên Dân trí và các hệ thống site chuyên ngành khác mà không cần phải thiết kế lại.

* Kích thước: thiên về banner to rộng hơn và chia sẻ lượt xem để tạo ra chiều sâu ấn tượng bằng cảm giác hoành tráng, đẹp đẽ, không rối mắt hơn là các banner nhỏ mà ai cũng xem.

* Màu sắc: màu sắc cả trang nhẹ nhàng, tạo độ nổi và khác biệt giữa quảng cáo và nội dung.

* Độ thoáng: Giữa các quảng cáo được tạo độ thoáng nhờ các khoảng trống được chừa sẵn, các đường viền chờ sẵn nếu cần thiết. Khiến cho các quảng cáo tách biệt rành mạch, rõ ràng với nhau hơn.

* Ads Format đa dạng: sự đa dạng về kích cỡ, hình thức quảng cáo chấp nhận và các hình thái rich media giúp khách hàng có nhiều lựa chọn hơn.

3. Next step?

 

* Cá nhân hóa? Có thể bao gồm dịch chuyển các box chứa tin chuyên mục trang chủ, điều khiển số lượng tin hiển thị theo từng chuyên mục. Điểm dở là đi ngược lại nhu cầu về sự nhất quán, thống nhất và zero effort khi tiêu thụ nội dung kiểu đại chúng.

* Giảm từ 3 cột về còn 2 cột? Điểm lợi là hình ảnh và video sẽ to hơn, thông thoáng hơn - đặc biệt phù hợp với các nội dung có tính "xem" hơn so với tính "đọc". Tuy vậy độc giả màn hình 800*600 sẽ bị thiệt thòi nặng nề.

* Thêm các box bổ sung cho từng chuyên mục? Nghiên cứu và cải thiện liên tục

* Cải thiện cấu trúc từng bài viết? Ví dụ như bài liên quan, bài liên quan từ báo khác, đọc tham thảo thêm, dòng sự kiện, các box trích dẫn, thảo luận v.v.. - Vấn đề này thiên về quan điểm làm báo hơn là vấn đề thiết kế, công nghệ, vì thế không bàn ở đây.

 

Lưu ý bản quyền

Bài viết ở blog này theo bản quyền Creative Commons Some Rights Reserved, Attribution-NoDerivs 2.5
Bạn có thể tự do đăng tải, tái đăng tải nhưng phải giữ nguyên bản và ghi rõ đường link tới http://tanng.spaces.live.com/.

Xem thêm tại đây
.
Mọi ý kiến, nhận định trong blog này đều là ý kiến cá nhân, không liên quan tới công ty, tổ chức nơi tôi làm việc; gia đình hay bạn bè. Mọi hành động trích dẫn blog này dưới danh nghĩa công ty, tổ chức tôi làm việc, hay gia đình/bạn bè đều là phạm luật.

Kho tư liệu

Loading...Loading...

Nguyen The Tan

Location
ngtan@yahoo.com